ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC DỊCH “FEUDAL” THÀNH “PHONG KIẾN” LÀ MỘT SAI LẦM LỚN



中共把feudal翻译成“封建(的)”是个大错误/王澄



Tác giả: Vương Trừng




Chú thích nội dung sơ đồ:
- Ô in đậm trên cùng: So sánh trình độ văn minh Phương Tây-Trung Quốc
- Hai ô trái ngoài cùng: Ô trên: Văn minh chính Phương Tây
Ô dưới: Văn minh nhánh người dã man Trung Quốc
Các ô trong đồ thị:
- Trên trục hoành, từ trái sang phải: Ô1: Lưỡng Hà 4000 năm tCn; Ô2: La Mã cổ đại, Hi Lạp cổ đại 700tCn-400 tCn; Ô3: Thời Trung cổ 500-1500; Ô4: Văn minh Châu Âu 1600-1950; Ô5: Văn minh Mĩ gần 200 năm

- Dưới trục hoành, từ trái sang phải: Ô1: Xã hội cổ đại ; Ô2: Xã hội phong kiến; Ô3: Nước sản xuất nông nghiệp qui mô nhỏ theo chế độ đẳng cấp đại nhất thống hoàng quyền

Phần I

Từ ”Phong kiến” là định nghĩa và khái niệm định tính cho cơ cấu kinh tế chính trị xã hội Trung Quốc trong khoảng 800 năm lịch sử, từ thời Tây Chu năm 1046 trước Công nguyên đến thời kì kết thúc Chiến Quốc năm 221 trước Công nguyên.
 “Phong kiến” có nghĩa là Phong bang kiến quốc. Khái niệm “Phong kiến” mới đầu có nguồn gốc từ “Sử kí . Hạ bản kỉ”: ‘Vũ () có họ Tự, sau phân phong, dùng nước làm họ’, đại để thuộc về phong kiến thị tộc. Từ những ghi chép có liên quan trong “Tả truyện . Định Công tứ niên”, “Sử kí . Ân bản kỉ” có thể thấy, đời Thương đại thể cũng giống vậy.i
       Thời kì mở rộng quan trọng của chế độ phong kiến là vào thời Tây Chu, đặc biệt là các thời kì Vũ Vương (武王, 1046-1043 tCn) và Thành Vương (成王, 1042-1021 tCn).
       Có 3 loại người được phân phong thời Tây Chu: Thân thích vương thất, quan có công và con cháu tiên hiền đế vương cổ đại. (Loại thứ ba chiếm tỉ lệ rất nhỏ).
   Đến Thời kì Chiến Quốc (475-221 tCn), chế độ phong kiến bắt đầu tan rã. “Phế phong kiến, phế tỉnh điền, bỏ bờ ruộng, lập quận huyện” do Thương Ưởng Biến pháp (356-350 tCn) và Tần Thủy Hoàng (221 tCn) đề xuất đã chấm dứt triệt để chế độ phong kiến 800 năm trong lịch sử Trung Quốc.
 [ Lưu ý: Thời kì phong kiến thị tộc khởi thủy từ trước năm 1046 tCn rất nhiều, có thể bao gồm cả triều Thương (1600-1046 tCn) và triều Hạ (2070-1600 tCn)].
  Một trong những nội dung chủ yếu của chế độ phong kiến trong lịch sử Trung Quốc là chế độ đất đai: Một là quyền sở hữu đất đai, hai là quyền sử dụng (của người sử dụng) đất đai. Về chế độ đất đai trước thời Chiến Quốc, thiếu sách vở, có rất nhiều thuyết pháp, chứng cứ lại không đủ. Nếu nói chế độ đất đai trước thời Chiến Quốc là quyền sở hữu nằm trong tay lãnh chúa (chư hầu), tức công điền, thì người nông dân chỉ có quyền sử dụng, mọi người đều đồng ý với thuyết pháp này. Đặc biệt là trong Tỉnh điền chế có nhắc tới, trong “Công Dương truyện” năm Tuyên Công thứ 15, Hà Chú nói: “Phì nhiêu bất đắc độc lạc, xao xác bất đắc độc khổ. Cố tam niên nhất hoán chủ dịch cư. Tài quân lực bình” (Nguyên văn: “肥饶不得独乐,墝埆不得独苦。故三年一换主易居。財均力平。” Tạm dịch: Đất phì nhiêu không riêng ai hưởng mãi, đất khô cằn không riêng ai khổ mãi. Vì thế, cứ 3 năm đổi chủ một lần. Tài lực đều nhau). Người canh tác cứ 3 năm đổi đất một lần, chứng tỏ nông dân không có quyền sở hữu đất đai.ii
    
    Thời kì Chiến Quốc là thời xuất hiện tư hữu đất đai. Tư hữu đất đai chính là người chiếm hữu đất đai có quyền mua bán đất đai.
  Ở thời kì phong kiến Trung Quốc, qúa trình thay đổi từ công điền (Tỉnh điền chế) đến tư điền đã phản ánh sự thay đổi về các phương diện xã hội, kinh tế, chính trị…, trào lưu thay đổi ấy dường như là không thể ngăn cản. Sức sản xuất nông nghiệp trước thời Chiến Quốc hết sức thấp, đây cũng là một nhân tố quan trọng, bởi tự mình đã không nuôi nổi gia đình mình, cho nên đòi hỏi phải có sự hợp tác tập thể với phạm vi lớn hơn. Trong “Công Dương truyện” năm Tuyên Công thứ 15, ở phần “Giải hỗ” Hà Hưu nói: “Cảnh điền chi nghĩa, nhất viết vô tiết địa khí, nhị viết vô phí nhất gia, tam viết đồng phong tục, tứ viết hợp xảo chuyết, ngũ viết thông tài hóa, nhân tỉnh điền dĩ vi thị, cổ thục ngữ viết thị tỉnh” (Nguyên văn: “井田之义,一曰无泄地气,二曰无费 一家,三曰同风俗,四曰合巧拙,五曰通财货,因井田以为市,古俗语曰市井” Tạm dịch: Ý nghĩa của tỉnh điền, một là không để thoát địa khí, hai là không tổn phí cho một nhà, ba là đồng phong tục, bốn là kết hợp tài giỏi vụng dại, năm là lưu thông tiền hàng, bởi vì tỉnh điền được coi là chợ, tục ngữ cổ gọi là thị tỉnh). Tỉnh điền chế là xã hội nông thôn thời cổ theo kiểu hợp tác xã giúp đỡ lẫn nhau. Đến Thời kì Chiến Quốc, kĩ thuật nông nghiệp đã có tiến bộ, đã xuất hiện cày trâu và cày sắt. Khi những người trong gia đình có 5 miệng ăn đã có thể nuôi sống được mình, bèn không muốn hợp tác với người khác nữa, nguyện vọng về chế độ tư hữu đất đai cũng tăng theo.
   (Cần đặc biệt chỉ ra rằng, sự tiến bộ và hoàn thiện về kĩ thuật nông nghiệp Thời  Chiến Quốc, bao gồm cày trâu, cày sắt, phân bóntưới tiêu con số thống kê dân số các gia đình 5 khẩu từ triều Hán đếntriều Thanh, đã không còn tiến bộ và thay đổi nữa).

Phần II

Bây giờ tôi sẽ nói về điểm khác nhau giữa thể chế 
feudal system từ thế kỉ 9-15 ở Châu Âu với xã hội phong kiến Trung Quốc. Thể chế feudal system là một hiện tượng hết sức quan trọng vào thời Trung cổ ở Châu Âu. Feudal system hoàn toàn khác với xã hội phong kiến củaTrung Quốc, dịch feudal thành “phong kiến” là một sai lầm lớn. (Thực ra, Đảng cộng sản Trung Quốc có ý soán đổi lịch sử, là hành vi có tội đối với dân tộc Trung Hoa).
    
1. Thời đại khác nhau
Xã hội phong kiến ở Trung Quốc phát sinh từ thời Tây Chu năm 1046 trước Công nguyên đến năm 221 trước Công nguyên, (Hạ Thương có thể là xã hội phong kiến thị tộc)iii, còn feudal system ở Châu Âu phát sinh từ thế kỉ 9 đến thế kỉ 15 sau Công nguyên, hai loại hình này cách nhau khoảng 2000 năm. (Dân mác xít Đảng cộng sản Trung Quốc nói, chế độ phong kiến của chúng ta kết thúc sớm hơn Phương Tây khoảng 2000 năm, xét về lịch sử, chúng ta là nước tiên tiến. Thật xuẩn ngốc).

    2. Mục đích và nội dung khác nhau
    
    Phong kiến thời Tây Chu là “Phong bang kiến quốc”. Tây Chu là một nước nhỏ, sau Trận Mục Dã (năm 1111 tCn) đánh bại Đại quốc triều Thương, chỉ tiêu diệt được chính quyền trung ương của triều Thương. Tây Chu cho rằng, chỉ có chế độ phong kiến phân quyền mới có thể chiếm cứ được địch quốc triều Thương to lớn này một cách hữu hiệu. Chế độ phong kiến phân quyền sẽ có thể thiết lập phên giậu, bảo vệ vương thất, trấn phủ các tộc, chế ngự ngoại xâm, khiến Tây Chu trở thành đại quốc ngày thêm ổn định.
  Còn feudal system ở Châu Âu là để đối phó với hỗn loạn. Feudal system ở Châu Âu ra đời trong quá trình Đế quốc La Mã dần tiêu vong, các tiểu vương quốc (nhỏ hơn Đế quốc La Mã rất nhiều) mọc lên như nấm, chiến tranh cục bộ diễn ra liên miên, các chư hầu và lãnh chúa kêu gọi thành lập vũ trang tư nhân để bảo vệ mình. (Đây có thể là vũ trang tư nhân xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử Châu Âu).
    Feudal system là một loại khế ước giữa lãnh chúa với võ sĩ, tức võ sĩ xuất chinh vì lãnh chúa, hoặc làm tham mưu, còn lãnh chúa tặng lại đất đai cho võ sĩ. Cũng có thể nói, chế độ phong kiến thời Tây Chu là một chế độ phân phối cấp nhà nước, còn feudal system của Châu Âu thì khởi thủy là hiện tượng xã hội ở cơ sở địa phương. Sau đó, định nghĩa feudal system của Châu Âu đã được các học giả mở rộng thành khế ước giữa lãnh chúa với võ sĩ, cùng các vấn đề về quyền sở hữu và quyền sử dụng địa sản nhà thờ. 
3. Mối quan hệ giữa nông dân với đất đai khác nhau     
 
 Tuy đều là công điền, nhưng phương thức tổ chức lao động khác nhau. Năng suất sản xuất nông nghiệp Trung Quốc trước thời Chiến Quốc cực kì thấp, công điền và lao động tập thể là sự lựa chọn duy nhất. Song không có quá trình chuyển từ nô lệ sang nông nô như Châu Âu.
    Thời Trung cổ ở Châu Âu, ngoài một số ít nông dân tự canh táciv ra, sản xuất nông nghiệp của Châu Âu đã trải qua quá trình từ nô lệ đến nông nô. Cả nô lệ và nông nô đều canh tác đất đai của lãnh chúa, nhưng nô lệ chỉ làm lao dịch, thù lao cho nô lệ chỉ là mức sống thấp nhất đủ để sinh tồn, còn nông nô thì có gia đình riêng, (giúp cho việc gia tăng dân số), và được hưởng một phần lao động của mình.
   
    Đọc mở rộng
v
    Life in the countryside in 1066-1485. Sách lịch sử Anh mô tả xã hội nông thôn thời kì từ năm 1066 đến năm 1485 như sau:

Dịch từ Bản dịch tiếng Trung:
 Khi ấy, đa số (dân Anh) sống ở nông thôn, nông thôn về mặt hành chính được phân chia thành rất nhiều lãnh địa. Mỗi lãnh địa thông thường gồm một ngôi làng và đất bao quanh. Đất đai nông thôn có diện tích lớn và dài hẹp. (Khi cày đỡ phải quay). Nông dân thuê đất phải nộp một phần thu nhập năm cho lãnh chúa, một phần khác nộp cho nhà thờ. Có những nông dân không phải dân tự do, họ chỉ bán sức lao động. Khi nông dân kế thừa đất đai và con gái (trưởng) lập gia đình, những nông dân này phải làm lao dịch cho lãnh chúa, đồng thời lấy tiền công từ lãnh chúa.
   Trách nhiệm của lãnh chúa là bảo vệ nông dân trong thời kì có chiến tranh, đồng thời điều chỉnh các tranh chấp láng giềng với tư cách “pháp quan”. Có những kị sĩ (quí tộc) chỉ có từ một đến hai lãnh địa, còn phần lớn các kị sĩ có nhiều lãnh địa hơn. Họ quản lí thông qua người trung gian. Cũng có những lãnh thổ đặc biệt lớn nằm phân tán ở nông thôn, đó đều là tài sản của các nhà thờ lớn hoặc tài sản của các lãnh chúa thế tục. (Cùng chú thích v ).

     Nguyên bản tiếng Anh:
The majority of people lived in the countryside, which was divided into thousands of landholdings called manors. A manor usually included a village and its surroundings, although some manors incorporated several settlements. Fields were open, long narrow strips of land. The peasants who worked the land paid part of their annual harvest to the load of the manor as rent, another part went to the Church. Some peasants were free tenants, others were unfree (villeins), who worked the lord’s own fields. They were required to give the load labor and to pay certain fines (fees) such as heriot, when inheriting a landholding, and merchet, on the marriage of a daughter. The lord of the manor protected his tenants in times of war and acted as judge in disputes between neighbors.
    Some knights owned only one or two manors, but most had several, and managed them through an agent called a reeve. Large estates consisting of numerous manors, often widely scattered around the county, were cathedrals owned manors, as did secular lords. 
(Cùng chú thích v ).
    
    4. Thành phần xã hội khác nhau
  Thời kì feudal ở Phương Tây ví dụ như nước Anh, ở cơ sở địa phương (làm những công việc cụ thể) chỉ có 3 loại người: Võ sĩ, nông dân, (về sau có) giáo sĩ. Mà võ sĩ là thuộc về cấp bậc chuyên nghiệp. Trong lịch sử Trung Quốc chưa từng có (người làm) nghề như vậy. Chỉ Nhật Bản trong lịch sử mới từng có võ sĩ chuyên nghiệp (samurai). Quân nhân và võ sĩ La Mã cổ đại và thời đại feudal Châu Âu đều là người thuộc tầng lớp trên trong xã hội, người thuộc tầng lớp dưới trong xã hội, như nô lệ, không được làm quân nhân.

5. Chế độ feudal của Phương Tây nhấn mạnh sự phục tùng giữa các cá nhân, tức sự trung thành của võ sĩ với lãnh chúa
   Tiếng Anh là the bonds of personal loyalty and dependence. Chẳng hạn, nhà quí tộc (count) William of Poitou năm 1020 nói với các võ sĩ của mình, You are my man, and your duty is to do my willCác anh là người của tôi, tôi muốn bắt các anh làm gì là phải làm nấy.vi
   
6. Trình độ tiến bộ xã hội khác nhau   
    Trung Quốc đến Thời kì Chiến Quốc mới xuất hiện cày trâu, còn Văn minh Lưỡng Hà, tức Văn minh Mesopotamia của Phương Tây đã xuất hiện cày trâu, thủy lợi và ruộng chạy dài từ 3000 năm trước Công nguyên. 
vii,viii Lịch sử cày trâu của Trung Quốc muộn hơn Văn minh Lưỡng Hà 3000 năm. (Xem hình dưới).
   Chú thích hình vẽ: Máy hỗn hợp seeder-plow gieo hạt và cày bằng trâu kéo xuất hiện vào Thời kì Uruk muộn ở Lưu vực Lưỡng Hà (3200 tCn – 3000 tCn).

Đô thị hóa Thời Trung cổ  Châu Âu từ Đế quốc La Mã xâm nhập vào đã hết sức phát triển, kinh doanh thịnh vượng, đã kích thích làm phong phú thêm các sản phẩm thủ công ở nông thôn. Bất kể là trình độ kinh doanh hay trình độ đô thị hóa, thời đại phong kiến của Trung Quốc cách sau Thời Trung cổ Châu Âu 2000 năm tỏ ra quá nguyên thủy, không thể đối sánh.
7. Trình độ pháp chế khác nhau Châu Âu sau thời Đế quốc La Mã cổ đại đã bước vào xã hội pháp chế, còn người Trung Quốc là giống người dã man chưa có dân pháp trong lịch sử đầy tai tiếng của mình. Chẳng hạn, khế ước giữa lãnh chúa và nông nô trong feudal system của Châu Âu là cùng có lợi, nông nô phải nộp thuế, lãnh chúa phải chịu trách nhiệm bảo vệ nông nô, ví dụ khi xảy ra chiến tranh cho phép nông nô được vào ẩn náu trong lâu đài. Khế ước có hiệu ứng pháp luật.
    8. Sự phát triển về sau khác nhau   
Sự tan rã của chế độ phong kiến Trung Quốc là để thiết lập nên một xã hội người càng thấp cấp hơn, càng dã man hơn theo chế độ thiên hạ nhất thống hoàng quyền. Còn sự tan rã của 
feudal system Châu Âu là do chiến tranh đã hết, sự cùng có lợi giữa lãnh chúa và võ sĩ cũng không còn. Đồng thời, nông dân có đất đai cũng không muốn trả lại đất đai cho lãnh chúa, nhất là sau khi họ qua đời, mà muốn để lại cho con cháu. Nói gì đi nữa, thì feudal system Châu Âu cũng đã lợi dụng được những nội dung ưu thế của mình để cuối cùng chuyển thành chủ nghĩa tư bản.
Xã hội phong kiến của Trung Quốc là thời kì các tư tưởng phát triển mạnh nhất trong lịch sử, xã hội nông nghiệp từ xã hội phong kiến đi tới chế độ đẳng cấp chuyên chế đại nhất thống hoàng quyền 2000 năm sau đó là sự đắm chìm đúng nghĩa. 2000 năm sau đó, nông dân tự canh tác (cùng chú thích iv) và điền nông ở Trung Quốc có thu nhập hết sức ít ỏi, chỉ gắng sống qua ngày, (một gia đình 5 khẩu nếu có thêm 1 người, thì người đó phải chịu chết đói), trong dân gian chưa từng có một số lớn tư bản thặng dư, nên không có cách gì tái đầu tư và mở rộng sản xuất. Một chữ “cùng”ix đeo bám người Trung Quốc suốt 2000 năm, cho đến tận năm 1980. (Tôi đang nói về thu nhập bình quân đầu người).     
    Feudal system Châu Âu là nền văn minh Đế quốc La Mã cổ đại bước vào thời kì quá độ năm 1600, là một giai đoạn chuyển hình thái của thời Trung cổ vào thời kì chủ nghĩa tư bản công nghiệp khởi đầu từ năm 1750. Châu Âu ở giai đoạn này đã kế thừa và hoàn thiện đô thị hóa, giáo dục, luật pháp, Kitô giáo, kĩ thuật sản xuất nông nghiệp được nâng cao, thủ công nghiệp phát triển, kinh doanhtài chính, hàng hải, thuốc súng, súng ống…đã chuẩn bị cho nền văn minh Châu Âu ở giai đoạn tiếp theo.
9.    Các học giả Phương Tây cận đại không muốn dùng từ “feudalism” (chú thích x-xiii x,xi,xii,xiii
Cho rằng feudal system thời Trung cổ Châu Âu phát triển không đồng đều nhau ở các khu vực. Ngoài các nước Pháp, Anh, Đức (phát triển không đồng đều) được các nhà sử học chú trọng quan tâm ra, các nước nhỏ còn lại, như Scandinavia, chưa từng có feudal system (bởi chưa từng bị La Mã chiếm đóng. Feudal system bắt nguồn từ Đế quốc La Mã thời kì cuối).
Cá nhân tôi rất đồng ý với ý kiến ​​này.  Feudal system có tồn tại trong lịch sử Châu Âu. Song, nếu biến nó thành -ism thì sẽ là khái niệm cộng tính, đồng thời dùng khái niệm của những người này để lồng vào hình thái xã hội của các nước và khu vực tương tự khác thì quá khiên cưỡng. Nhất là đã tạo kẽ hở cho tà giáo Mác-Lênin.
 
 
    [Wiki]  

    Since the 1970s, when Elizabeth A. R. Brown published The Tyranny of a Construct (1974), many have re-examined the evidence and concluded that feudalism is an unworkable term and should be removed entirely from scholarly and educational discussion or at least used only with severe qualification and warning.
 (Chú thích xiii)
   
    Outside a European context, the concept of feudalism is normally used only by analogy (called semi-feudal), most often in discussions of feudal Japan under the shoguns and sometimes medieval and Gondarine Ethiopia. 
However, some have taken the feudalism analogy further, seeing it in places as diverse as ancient Egypt, the Parthian empire, the Indian subcontinent and the Antebellum and Jim Crow American South. (Chú thích xiii)
   
    The term feudalism has also been applied—often inappropriately or pejoratively—to non-Western societies where institutions and attitudes similar to those of medieval Europe are perceived to prevail. Some historians and political theorists believe that the term feudalism has been deprived of specific meaning by the many ways it has been used, leading them to reject it as a useful concept for understanding society.
(Chú thích xiii)
    
Lời kết    
Nếu so sánh giữa lịch sử nền văn minh chính của loài người, tức Văn minh Phương Tây, với lịch sử nền văn minh nhánh của người dã man Trung Quốc, thì một là chốn dương gian và một là cõi âm.  Chốn dương gian và cõi âm không tương thông với nhau, giữa Phương Tây và Trung Quốc chưa từng có thời kì tương tự về hình thái xã hội trong lịch sử. (Xem Hình 1: Sự phát triển của nền văn minh chính Phương Tây giải qua 5 giai đoạn: Văn minh Lưỡng Hà, Văn minh Hi Lạp – La Mã cổ đại, Thời Trung cổ, Văn minh hiện đại/Văn minh công nghiệp/Chủ nghĩa tư bản Châu Âu, Văn minh Mĩ. Còn lịch sử Trung Quốc trải qua 4 giai đoạn: Xã hội giản đơn cổ đại và xã hội phức tạp cổ đại, Xã hội phong kiến, Xã hội kinh tế tiểu nông chế độ đẳng cấp đại nhất thống hoàng quyền, Trung Hoa Dân quốc. Trung Hoa Dân quốc có tiến bộ, Đảng cộng sản Trung Quốc sau khi cầm quyền thì nát bét. (chú thích iii)  
      Cứ nhất định phải dịch feudal thành “phong kiến”, là do Đảng nông dân cộng sản Trung Quốc vì theo đuổi học thuyết của cha tổ tà giáo Mác-Lênin, nên đã dùng từ ngữ duy vật lịch sử mác xít để sáng tạo ra lịch sử của Trung Quốc, vì thế Đảng cộng sản Trung Quốc muốn Trung Quốc dứt khoát phải có xã hội nô lệ, tức triều Thương, và feudal society. Đảng cộng sản Trung Quốc gán cái nhãn “phong kiến” cho feudal của Châu Âu, cho nên mới thuyết minh rằng chủ nghĩa duy vật lịch sử mác xít cũng là đúng ở Trung Quốc - Chân lí vũ trụ.
    (Lưu ý: La Mã cổ đại Châu Âu có chế độ nô lệ, song không có xã hội nô lệ ( chú thích xiv ), Trung Quốc lại càng không có xã hội nô lệ. Chủ nghĩa duy vật lịch sử mác xít đã sai lầm, K.Mark chỉ dùng quan hệ sản xuất để đánh giá sự phát triển của xã hội là phiến diện).
    Phần lớn các tướng lĩnh khởi nghĩa nông dân của Đảng nông dân cộng sản Trung Quốc đều bán mù chữ. Những người có kiến thức trong Đảng cộng sản Trung Quốc cũng đều là loại người Hoa cặn bã đã bán rẻ lương tâm của mình, chẳng hạn như Quách Mạt Nhược. Họ mới đầu “gọt giày cho vừa chân” khi dịch saifeudal thành “phong kiến”, về sau lại “gọt chân cho vừa giày” để nói xã hội kinh tế tiểu nông chế độ đẳng cấp đại nhất thống hoàng quyền gần 2000 năm của Trung Quốc thành “xã hội phong kiến”.
(Ngay cả Tần Thủy Hoàng cũng không đồng ý xã hội Trung Quốc sau thời ông ta là “xã hội phong kiến”).
    Sự ngu dốt và vô liêm sỉ như Đảng cộng sản Trung Quốc là cực kì hiếm thấy trong lịch sử nhân loại.
Sách lịch sử do Đảng cộng sản Trung Quốc biên soạn cuối cùng sẽ phải đốt bỏ toàn bộ.     
Kết luận của tôi  , từ “phong kiến” trong lịch sử Trung Quốc là từ dùng từ triều Chu đến triều Tần, chúng ta không được sửa đổi. Ông bạn họ Trương, ông có đổi được không? Đổi được chỉ là đổi cách dịch đối với từfeudal . tốt nhất là làm như người Nhật, dùng Katakana (dịch âm) (chú thích xv ), hoặc không dịch mà dùng trực tiếp tiếng Anh.
    (Ở đây tôi xin được nói thêm, tiến hóa văn minh trong sản xuất nông nghiệp của loài người trải qua 3 giai đoạn: Lao dịch cổ đại, điền tô, tư hữu đất đai (nộp thuế). Lao dịch cổ đại chính là chế độ nô lệ, công xã nhân dân từ thập kỉ 1950 đến thập kỉ 1970 chính là ở trình độ lao dịch cổ đại, chính là chế độ nô lệ. Dưới chế độ nô lệ, nông dân không bao giờ được no, ốm đau chỉ có thể dùng thảo dược Đông y. Do sự tiến bộ văn minh, sự tiến bộ khoa học kĩ thuật và sự nâng cao về năng lực sản xuất của chế độ xã hội Phương Tây, mà kể từ sau nạn đói Ailen từ năm 1845-1852, ở Phương Tây không bao giờ còn xảy ra nạn đói nữa. Còn Đảng cộng sản Trung Quốc thì trong khoảng thời gian từ năm 1958-1961, đã có từ 3-40 triệu nông dân chết đói, còn chẳng bằng được cả chế độ nô lệ thời La Mã cổ đại).

Chú thích:

Xã hội dân sự và lực cản khó vượt qua


Mặc Lâm, biên tập viên RFA

2016-03-11

000_Hkg5231191
Nhân sĩ trí thức trong một lần biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội.
 AFP photo
Xã hội dân sự tại Việt Nam vừa bắt đầu hình thành qua các nhóm dân oan, trí thức, tù nhân lương tâm hay những nhà bất đồng chính kiến trong vài năm gần đây. Nhà nước không công nhận, dân chúng chung quanh ít biết tới với nhiều lý do, nội bộ tranh cãi gay gắt và nhiều nhóm đang âm thầm tan rã. Những hình ảnh tiêu cực này đang là câu hỏi nhức nhối cho phong trào mặc dù vẫn còn nhiều hội nhóm tích cực tiến gần tới đích qua phong cách làm việc vững vàng và hiệu quả.
Khái niệm xã hội dân sự
Nói tới xã hội dân sự người dân trong các nước dân chủ nghĩ tới các hội nhóm có cùng khuynh hướng, mục tiêu, và quyền lợi họp lại với nhau chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, hay sở thích, lý tưởng chung. Hình thức đặc biệt của xã hội dân sự là độc lập với chính phủ, mọi kinh phí phải tự tìm và chính phủ không hề tham dự vào cách tổ chức hay điều hành một hội nhóm nào trên danh nghĩa phi lợi nhuận. Quan trọng nhất trong việc thành lập nhóm xã hội dân sự là sự tự nguyện của tất cả các thành viên.
Tại Việt Nam những hội đoàn xuất hiện từ khi chính quyền được thành lập nhưng khuôn khổ của nó hoàn toàn khác với cách tổ chức của xã hội dân sự. Chính phủ cung cấp kinh phí, hướng dẫn và tổ chức cho chính cái hội ấy hoạt động song song với guồng máy nhà nước vì vậy hội đoàn nào cũng là chân rết của chính quyền, hoạt động theo định hướng từ trên và danh xưng xã hội dân sự hoàn toàn không phù hợp.
Luật sư Võ An Đôn, người được tiếng là quên mình để bảo vệ công lý đã công khai tuyên bố sẽ là ứng cử viên độc lập cho kỳ bầu cử lần này. Là luật sư có tên trong Đoàn Luật sư tỉnh nhưng Luật sư Đôn cho biết không thể kêu gọi sự ủng hộ của Đoàn luật sư vì nó không phải là một tổ chức xã hội dân sự bởi được thành lập do Đảng chỉ định. LS Võ An Đôn chia sẻ:
Hiện nay ở các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương toàn Việt Nam thì mỗi tỉnh đều có Đoàn luật sư và Hội luật gia. Đoàn luật sư thì do tổ chức luật sư toàn quốc quản lý. Riêng hội luật gia thì không phải là luật sư họ là người có bằng cử nhân luật đang làm việc trong các cơ quan nhà nước thì có quyền gia nhập Hội luật gia này ở các tỉnh. Nhưng Hội luật gia thì do nhà nước dựng lên chứ không phải là tổ chức xã hội dân sự. Đa số các Đoàn luật sư cũng như Liên đoàn thì chủ nhiệm là các đảng viên và được nhà nước chấp nhận cho nên khi lên làm thì họ theo chủ trương của nhà nước.
Tôi thấy một điều rõ rệt nhất, cái nguyên nhân lớn nhất là do cái “tôi” quá lớn. Việc cần làm nhất là chúng ta phải bớt cái tôi đi mà phải vì mục tiêu chung.
- Nhà báo tự do Ngô Nhật Đăng
Lực cản mạnh mẽ từ các tổ chức của nhà nước đã ngăn không cho xã hội dân sự phát triển tại Việt Nam. Từ chỗ bị cấm cản, đàn áp từng hội nhóm cũng bằng mọi cách ra đời nhằm bảo vệ cho chính quyền lợi của các nhóm có hoàn cảnh giống nhau. Nhóm dân oan có lẽ là sự xuất hiện sớm nhất của những hoàn cảnh và cùng một mục đích: đòi lại đất đai mà nhà nước trưng thu một cách bất công.
Hầu như cùng lúc, sau dân oan là Phụ nữ nhân quyền, Cựu tù nhân lương tâm, Nhà báo độc lập, Liên đoàn lao động Việt, Mạng lưới blogger….tất cả cùng hào hứng góp mặt với xã hội hình thành một cộng đồng các nhóm xã hội dân sự đối trọng với hội đoàn của chính quyền mặc dù nội lực của các nhóm xã hội dân sự luôn là điều băn khoăn của tất cả các hội viên.
Chị Cấn Thị Thêu, một khuôn mặt nổi bật trong những người tranh đấu cho dân oan Dương Nội, địa danh nay đã trở thành biểu tượng cho người dân oan, chia sẻ tình trạng Hội dân oan khi chị từ nhà tù trở về với đời sống bên ngoài:
Khi em đi tù về một thời gian sau thì có bác Trần Thị Hài, bác Trương Thanh Quang từ miền nam ra thành lập Hội dân oan ba miền, nói chung là có những cái chưa chuẩn bị chu đáo. Mới bắt đầu thành lập nên chưa có kinh nghiệm và lại bị an ninh đánh phá rất mạnh cho nên từ ngày về tới giờ cái hội đấy hoạt động không hiệu quả nữa. Chị Quang và chị Hài cũng về miền nam rồi. Trong kia thì em nghe nói chị Trần Ngọc Anh có trong Phong trào Liên đới dân oan còn ở Hà Nội nói về phong trào thì chúng em rất mạnh bởi vì hàng tuần ít nhất chúng em cũng được một lần hoặc hai lần có khi ba lần…hoặc khi có những vấn đề gì như các anh em dân chủ bị bắt thì dân oan tham gia hỗ trợ. Phong trào bây giờ rất rầm rộ nhưng để mà người nào phụ trách phong trào đấy thì em chưa thấy có ai.
Khó khăn đến từ đâu?
Một trong những lý do khiến xã hội dân sự không thể lớn mạnh đó là sự thiếu vắng tổ chức hay tổ chức trái với tôn chỉ mà hội viên đặt ra lúc ban đầu. Bà Lê Hiền Đức, một người nổi tiếng trong việc tranh đấu cho dân oan kể lại sự chấm dứt của bà với nhóm dân oan như sau:
000_Hkg10162656-400
Người dân tụ tập ca hát trong một cuộc biểu tình phản đối kế hoạch chặt cây xanh của chính quyền Hà Nội vào ngày 22 tháng 3 năm 2015. AFP photo
Việc dân oan thì lúc đầu tôi cũng nghĩ rằng hợp tác với nhau, kề vai sát cánh với nhau thì nó có sức mạnh hơn nhưng thực chất thì bây giờ không thể làm được chuyện gì cả. Lúc đầu người ta có thể cùng với nhau giúp những người dân oan đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng và hợp pháp nhưng dần dần có những người lại ngã theo tổ chức này tổ chức khác có vẻ liên quan đến chính trị thì tôi không thể tham gia vào những cái chuyện như vậy.
Trong các nhóm xã hội dân sự được thành lập không ít nhóm có tiêu chí chính trị rất rõ ràng. Vì là chính trị nên thường xuyên có những trao đổi về các tương quan chính trị hay xã hội. Từ chỗ trao đổi đến tranh luận và phản biện là việc hẳn nhiên, tuy nhiên văn hóa tranh luận trong nhiều nhóm đã gây chia rẽ và bất hòa.
Phạm Thanh Nghiên, một người đấu tranh cho dân chủ nhân quyền trong nhiều năm cho biết kinh nghiệm của cô về vấn đề này:
Có những kinh nghiệm mình đã trải qua nhưng không hề muốn. Đó là khi mà ta phát biểu quan điểm một cách công khai không giấu giếm trước người khác thì lập tức chúng ta sẽ bị hiểu lầm, thậm chí bị chụp mũ là mình đang chống họ. Điều này tôi cho rằng đã hạn chế tính phản biện ở Việt Nam. Nó gây ra chia rẽ giữa những cá nhân cũng như giữa các hội nhóm dân sự vốn đang manh nha hình thành và rất non yếu.
Điều này làm cho những người thật sự nặng lòng, có chiều sâu hoặc thuộc về số ít của các quan điểm và nhất là họ là những người ngại va chạm thì càng ngày càng e dè trong việc bày tỏ, phát biều quan điểm của mình một cách công khai trước công luận. Tôi cho rằng vấn đề này chúng ta cần phải suy nghĩ.
Nhà báo tự do Ngô Nhật Đăng có cái nhìn chi tiết hơn, mặc dù kết luận của ông không khác Phạm Thanh Nghiên bao nhiêu:
Tôi thấy một điều rõ rệt nhất, cái nguyên nhân lớn nhất là do cái “tôi” quá lớn. Việc cần làm nhất là chúng ta phải bớt cái tôi đi mà phải vì mục tiêu chung. Nếu ai cũng nói chúng tôi làm cái việc này vì yêu nước, vì quê hương, vì những điều tốt đẹp cho nhân dân trong khi những việc rất đơn giản anh có thể ngồi lại với nhau thì không làm được thì tôi nghĩ rằng những lời nói đó chỉ là sáo rỗng.
Việc dân oan thì lúc đầu tôi cũng nghĩ rằng hợp tác với nhau, kề vai sát cánh với nhau thì nó có sức mạnh hơn nhưng thực chất thì bây giờ không thể làm được chuyện gì cả.
- Bà Lê Hiền Đức
Ba năm sống và va chạm với nhiều tổ chức xã hội dân sự nước ngoài đã khiến cho Nguyễn Anh Tuấn có một số kinh nghiệm quý giá về cách tổ chức, điều hành, làm việc. Sự chuyển động trong tư thế chuyên nghiệp đã giúp anh thấy được thành công của các bạn trẻ hay những tổ chức NGO phi chính phủ. Nguyễn Anh Tuấn chia sẻ:
Nếu mà nói tới người Việt ở nước ngoài thì có bạn là du học sinh hoặc là những bạn gốc Việt sinh ra và lớn lên ở ngoại quốc. Tôi cũng tiếp xúc các bạn ấy khá nhiều và học được từ thái độ làm việc cũng như tính chuyên nghiệp trong công việc của họ mà họ coi đó là một cái nghề trong khía cạnh chuyên nghiệp rất được đề cao. Đó là điểm mà tôi thấy.
Cũng hợp lý thôi. Các nước thì có một thời gian dài phát triển đến hàng trăm năm do đó tính chuyên nghiệp trong công việc của họ đã được nâng cao rất nhiều. Đó là điểm mình rất cần phải học mới có thể làm cho phong trào xã hội dân sự trong nước đi lên.
Thật khó biết được mai đây các hội nhóm xã hội dân sự sẽ được phát triển bằng cách nào, trong khi vừa thiếu thốn kinh phí lẫn kinh nghiệm, họ như đang bơi trong một chiếc hồ quá rộng mà điểm đến không được ai xác định.

Tìm hiểu về “nguyên tắc tập trung dân chủ”


 
Ở Việt Nam hay nói tới nguyên tắc tập trung dân chủ (democratic centralism). Vậy nguyên tắc đó là cái gì, khác với “dân chủ kiểu phương Tây” như thế nào, và nó được dùng ở những đâu?
Tập trung dân chủ nghĩa là gì?
Nguyên tắc này được Lenin đề xuất từ năm 1901 cho việc tổ chức của các đảng cộng sản, và được viết trong quyển sách “Shto delat?” (“Phải làm gì?) của Lenin viết năm 1902.Tiền thân của ĐCS Nga/Liên Xô là đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga. Đến đại hội năm 1903,  đảng này tách thành hai phe: Một phe là Bolsevik  (tiếng Nga có nghĩa là phe chiếm đa số, về sau thành ĐCS) ủng hộ nguyên tắc này, còn phe kia là menshevik (tiếng Nga có nghĩa là phe thiểu số) phản đối nó. Nguyên tắc tập trung dân chủ có các điểm chính như sau:
1. Tất cả các cơ quan lãnh đạo từ dưới lên trên (của ĐCS) được bầu ra bởi các thành viên ở mức thấp hơn.
2. Các thành viên được phép thảo luận các ý tưởng một cách dân chủ trước khi biểu quyết một vấn đề gì dó.
3. Sau khi biểu quyết thì thiểu số phải tuyệt đối tuân thủ, phục tùng theo những gì đã được đa số biểu quyết, không được có ý kiến khác.
4. Cấp dưới phải tuyệt đối tuân thủ, phục tùng cấp trên.
Theo Lenin, thì hai điểm đầu trong 4 điểm trên thể hiện “tính dân chủ” (democracy in discussions), và hai điểm cuối thể hiện “tính tập trung” (unity in actions) của tổ chức ĐCS.
Cụm từ “tập trung dân chủ” trở thành phổ biến từ sau cách mạng Nga 1917, và  Sau đó trở thành một trong 21 nguyên tắc mà tất cả các ĐCS thành viên của “Quốc Tế Cộng Sản” (Comintern, còn gọi là Quốc Tế 3, được Lenin thành lập từ năm 1915 và Stalin chính thức giải tán vào năm 1943)  phải tuân thủ. Ở những nước đi theo hướng cộng sản, thì chỉ có một đảng nắm quyền lãnh đạo là ĐCS, và nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ còn là nguyên tắc của ĐCS mà trở thành nguyên tắc tô chức của toàn bộ bộ máy chính quyền.
Tập trung dân chủ ra đời trong hoàn cảnh nào?
Lenin nghĩ ra nguyên tắc tập trung dân chủ dựa trên ý tưởng có từ trước đó trong các phong trào dân chủ xã hội ở Đức. Bối cảnh của sự ra đời nguyên tắc này là thời kỳ đầu thế kỷ 20, khi mà các ĐCS muốn làm cách mạng bao lực để cộng sản hóa thế giới, và có chiến tranh và nội chiến ở nhiều nơi tại châu Âu. Quốc Tế Cộng Sản tuyên chiến không chỉ với chủ nghĩa tư bản, mà còn tuyên chiến cả với các xu hướng dân chủ tự do, xã hội chủ nghĩa mà bị coi là “cải lương”, “cách mạng không triệt để”. Đồng thời, lúc đó sự hoạt động của ĐCS bị cấm ở  nhiều nơi trên thế giới, và ĐCS hoạt động bí mật theo kiểu hội kín. Tính chất hội kín và tính chất đáu tranh bạo lực đòi hỏi kỷ luật sắt, tương tự như trong quân đội, để đảm bảo tính chiến đấu rất cao. Nguyên tắc tập trung dân chủ xuất phát chính từ đòi hỏi kỷ luật sắt đó. Kỷ luật sắt của nguyên tắc tập trung dân chủ đã giúp cho các ĐCS có được sức mạnh rất lớn so với các thế lực chính trị khác có tổ chức lỏng hơn, giúp nó chiến thắng trong nhiều cuộc chiến tranh giành chính quyền
Tập trung dân chủ khác với dân chủ tự do như thế nào?
Trong dân chủ tự do (libreal democracy), thì đa số nắm quyền lãnh dạo nhưng thiểu số được đảm bảo các quyền lợi và sự tự do, và có các cơ chế kiểm soát quyền lực, còn trong “tập trung dân chủ” thì thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, không có sự đảm bảo quyền lợi cho thiểu số và cho những người cấp dưới, dễ dẫn đến độc tài. Trong “dân chủ tự do” người ta bầu đại diện của mình, đại diện làm việc không tốt thì bị thay thế, còn trong “tập trung dân chủ” người ta bầu cấp trên của mình, không thể thay thế dù cho cấp trên đó có trở thành đao phủ. Đấy là một thực tế đã xảy ra ở Liên Xô và ở những nơi khác. Cơ chế tập trung dân chủ đã tạo điều kiện cho Stalin thâu tóm quyền lực tuyệt đối, sát hại và tống tù đày hàng chục triệu người dân Xô Viết, và giết hại ngay chính các đồng chí của mình (toàn bộ Bộ Chính Trị và một tỷ lệ lớn đảng viên ĐCS chết vì tay Stalin).
Nguyên tắc tập trung dân chủ giúp cho ĐCS giành được chính quyền ở nhiều nơi. Nhưng cũng chính nguyên tắc này khiến cho sau khi giành được chính quyền, thì chính phủ cũng áp dụng nó, đưa ra các đạo luật hà khắc và hạn chế các quyền tự do của người dân, như là một chính quyền cảnh sát (police state). Dưới thời Stalin ở Liên Xô, công nhân chỉ cần nghỉ việc 1-2 hôm là đủ để bị đi tù đày. Tuy nhiên, Liên Xô và nhiều nước khác đã (và đang) trải qua giai đoạn khủng hoảng, nhân dân không chịu chấp nhận dân chủ tập trung nữa, dẫn đến thay đổi thể chế.
Ngày nay, trên thế giới chỉ còn có  05 nước có bộ máy chính quyền dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ: Bắc Triều Tiên, Cuba, Lào, Trung Quốc và Việt Nam. (Trung Quốc có ghi nguyên tắc tập trung dân chủ vào Điều 3 của Hiến pháp hiện tại). Các nước còn lại, nếu là nước “dân chủ” thì là theo hướng dân chủ tự do.
Tuy có những người nói rằng “dân chủ tự do là dân chủ kiểu phương Tây, không hợp với bản sắc dân tộc” của nước này hay nước khác, nhưng thực ra nó được áp dụng ở khắp nơi trên thế giới ngày nay, từ Ấn Độ đến Nhật Bản đến Hàn Quốc đến Philippnes đến Nam Phi đến Senegal đến Brazil, v.v. và v.v., thích ứng với rât nhiều “bản sắc văn hóa dân tộc” khác nhau, chứ không chỉ ở “phương Tây”. Hình dung tương tự như là cái ô tô vậy: tuy nó được sáng chế ra ở phương Tây, nhưng nó tốt thì cả thế giới dùng nó,  Các ý tưởng triết học lớn trên thế giới cũng vậy thôi, dù là xuất xứ ở đâu (trong trường hợp này thì có lẽ là ở Hy Lạp từ cách đây hơn 2000 năm), nhưng nó văn minh tiến bộ thì cả thế giới có thể dùng.
Tập trung dân chủ đi về đâu?
Từ khi nguyên tắc tập trung dân chủ được đưa ra, nó đã bị không chỉ phe Menshevik phải đối, mà một số lãnh tụ cộng sản uy tín lớn thời đó như Leon Trotski và Rosa Luxemburg cũng phản đối. (Về sau Trotski chấp nhận nó “một cách tạm thời”, nhưng sau khi Lenin chết, bị Stalin tìm cách thanh trừng). Tử nửa sau thế kỷ 20, đặc biệt từ khi các tội ác của Stalin đối với nhân dân Liên Xô bị phanh phui, nhiều ĐCS trên thế giới bắt đầu tỏ ra nghi ngờ nguyên tắc này hay cách diễn giải nó, và có những luận điểm kiểu “Bolshevik đã xuyên tạc nguyên tắc tập trung dân chủ của Marx” xuất hiện.
Trong “Mùa xuân Praha 1968″, nước Tiệp Khắc đã muốn từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ (kết quả là Liên Xô đưa xe tăng vào đàn áp). ĐCS ở Italia từ bỏ nguyên tắc này vào năm 1991 và đổi tên thành Đảng Dân chủ Cánh tả. Còn ĐCS Pháp đến năm 1994 đã từ bỏ nguyên tắc này, tuy vẫn giữ tên là ĐCS. (Gần đây hơn, ĐCS Pháp cũng đã bỏ cả biểu tượng lưỡi liềm).
Một vài tài liệu tham khảo:
https://www.marxists.org/glossary/terms/d/e.htm (Từ điển marxist, mục về tập trung dân chủ)
https://fr.wikipedia.org/wiki/Centralisme_d%C3%A9mocratique (trang wiki tiếng Pháp về tập trung dân chủ)
https://en.wikipedia.org/wiki/Democratic_centralism (trang wiki tiếng Anh về tập trung dân chủ)
https://fr.wikipedia.org/wiki/Printemps_de_Prague (Mùa xuân Praha)
https://www.marxists.org/archive/weisbord/Fraudulent.htm (“Bolshevic phản bội Marx”, dịch từ nguyên bản tiếng Italia năm 1976)