Lộ trình châu Âu văn minh hóa



Trong văn hóa xã hội, tất cả các quốc gia đều phải trải qua các giai đoạn phát triển theo thứ tự, trong đó tại Âu châu trải qua các thời kỳ: 
1. Thời Huyền sử, trước thế kỷ 8 trước Công nguyên.
2. Thời Cổ đại, từ thế kỷ 8 trước Công nguyên đến thế kỷ 5 sau Công nguyên.
3. Thời Trung cổ từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 15.
4. Thời Phục hưng từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 16.
5. Thời Cải cách từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 17.
6. Thời Khai sáng từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 18.
7. Thời Cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20.
8. Thời Hiện đại từ đầu thế kỷ 20 đến hiện nay.


Để ra khỏi Thời Trung cổ, Châu  đã phải qua nhiều thời kỳ, mỗi thời kỳ nhiều trăm năm. Bắt đầu từ những le lói ánh sáng văn hóa, văn minh của Thời đại Nhân Văn, Chủ nghĩa Nhân Văn (Humanism) phát xuất từ bên Ý, do Francesco Petrarca (1304-1374)  đề xướng. giữa thế kỷ 14 rồi đến khoảng đầu thế kỷ 15 từ Florence bên Ý với sự góp sức của một số nhà Nhân văn học như Saint Thomas Aquinas, Giotto di Bondone, Francesco Petrarca, Leonardo Bruni, Manuel Chrysoloras, Desiderius Erasmus, Filippo Brunelleschi, Lorenzo Valla, Poggio Bracciolini, một số nghệ thuật gia mới tạo thành phong trào bi quan ca thán cho hiện tại vào lúc đó, và hồi tưởng lại dĩ vãng oai hùng của nước Ý cách đó gần một ngàn năm, và văn minh Hy lạp cách đó hơn một ngàn năm trăm năm.   



Từ đó họ tạo thành Phong trào Phục hưng kéo dài 200 năm từ thế kỷ 15 sang thế kỷ 16, với sự trỗi dậy mạnh mẻ, bừng tỉnh, của các phong trào nhân văn, xã hội, nghệ thuật, khoa học, triết học, chẳng những tại quốc gia họ mà còn lan ra toàn Âu châu. Nhân dân Âu châu sau thời gian ngủ yên một ngàn năm trong Thời Trung cổ bổng trở mình, phát triển mạnh mẽ trong nhiều lãnh vực như kiến trúc, văn học, âm nhạc, hội họa, triết học, khoa học, kỹ thuật, vũ khí. Đây là thời kỳ cực thịnh của châu Âu, dọn đường cho Thời Khai sáng sau này.  





Thời Khai sáng chính là quá trình bứt phá khỏi quá khứ với quyền lực cai trị của giới địa chủ, lãnh chúa, chức sắc tôn giáo như Thời Phục hưng trở về trước sang một thế giới quyền lực cai trị vào tay những ai có khả năng nhất, bao gồm các triết gia hoặc học trò của họ. Đây cũng là thời đại các quốc gia hùng mạnh được hình thành như Pháp, Anh, Ý, Đức, Tây Ban Nha ngày nay. Chen giữa Thời Phục hưng và Khai sáng là Thời Cải cáchchủ yếu tranh đấu bình đẳng trong tôn giáo. 


Nhìn lại quá trình phát triển từ thời Trung cổ đến thời kỳ Khai sáng để bước vào thời kỳ Cách mạng công nghiệp rồi sau đó là thời Hiện đại từ thế kỷ 20 đến nay ở châu Âu kéo dài suốt hơn 600 năm với các nhân vật khởi xướng Thời đại Nhân Văn  là Francesco Petrarca, kế tiếp đến Cải cách, cách mạng công nghệ và người khởi xướng phong trào Khai sáng là René Descartes đều không từng là các chính trị gia. Họ là những nhà nhân văn, khoa học, công nghệ, hoạt động của họ nhằm khai sáng, mở mang đầu óc, trí tuệ người dân, chứ không nhằm quản trị dân, quản trị quốc gia.

Cách mạng thường ăn thịt những người sinh của nó



philippoteaux_Lamartine
Tác giả: Peter St. Onge – Người dịch: Phạm Nguyên Trường
Theo Tin Tức Hàng Ngày – 16 Jan 2015

Lời người dịch: Đây có thể được coi là lời bạt cho những tác phẩm như: Đêm Giữa Ban Ngày, Bên Thắng Cuộc, Đèn Cù, Giai Cấp Mới… và nhiều tác phẩm khác nữa.

Cách mạng cánh tả là một trong những cú lừa lớn nhất trong lịch sử. Cả các nhà trí thức, những người khao khát bắn phá lẫn những người bị thiệt thòi, những người bị đưa vào trại tập trung chứ không phải vào thiên đường trên cõi thế, đều được hứa như thế cả.

“Cách mạng thường ăn thịt những đứa con của mình”. Nhận xét này, do một nhà báo đưa ra trong cuộc Cách mạng Pháp, chỉ đúng một phần. Trên thực tế, các cuộc cách mạng ăn thịt chính những người sinh ra nó. Cụ thể là, các cuộc cách mạng tả khuynh trong lịch sử ăn ngay những trí thức cánh tả, tức là những người tạo điều kiện cho cách mạng xảy ra. Tôi dùng từ “cánh tả” ở đây là để chỉ những cuộc cách mạng có mục tiêu rõ ràng là sử dụng sức mạnh của chính phủ nhằm cải tạo xã hội. Để cải tạo xã hội cho phù hợp với cách hiểu về “công lý” mà những người cổ động cho nó coi là hấp dẫn.

Tất nhiên, trong những cuộc cách mạng mang tính cải cách như thế, các nhà trí thức chỉ là một món khai vị mà thôi. Những cuộc cách mạng mang tính cải cách của lịch sử chuyển thẳng vào món chính: nó bắt đầu ăn xơi những người bị thiệt thòi và những người thiểu số, tức là những người ủng hộ cách mạng nhiệt tình nhất.

Tất cả những cuộc cách mạng cánh tả trong thế kỷ XX đều theo mô hình này: được những nhà trí thức không tưởng trợ giúp, quyền lực nhanh chóng bị các nhà chính trị chuyên nghiệp – những kẻ luôn luôn lợi dụng những bản năng thấp kém nhất của những người bình thường – chiếm đoạt. Ngay cả ở những nơi “văn minh” nhất, như nước cộng Weimar ở Đức hay “sân chơi của những ngôi sao” Cuba trong những năm 1950, những kẻ vừa mới được đưa lên ngai vàng đều lấy làm sung sướng khi nhìn thấy những nhà trí thức và những bạn bè “đã thoái hóa” của họ bị bỏ tù, bị tra tấn và bị treo cổ trên những cột đèn.

Nhắc lại chỉ thêm buồn. Nhất là đối với những người cấp tiến muốn lấy tiền của người đóng thuế để cổ vũ cho bạo lực. Mao nổi tiếng khi khoe rằng đã “chôn sống 46.000 trí thức”, ý là ông ta đã đưa tất cả bọn họ vào các trại tập trung để họ ngậm miệng và chết ở đó. Phong trào cộng sản cực đoan của Pol Pot nổi tiếng vì đã giết hàng ngàn trí thức, đến mức tất cả những người đeo kính đều bị giết. Ngay cả các chế độ được cho là “mát mẻ”, ví dụ như của Fidel Castro, cũng lập ra các trại tập trung dành cho cho người đồng tính, trong khi Liên Xô cấm đồng tính luyến ái trong hơn năm mươi năm, vượt cả Putin.

Khôi hài nhất là, từng là ngôi sao sáng trong trường đại học, nhưng người hùng cực đoan Che Guevara đã tỏ ra vui sướng và tự mình giết những người đồng tính, những người mà ông ghét cay ghét đắng, trong khi giúp xây dựng hàng loạt trại tập trung của Fidel trên khắp cả nước để tra tấn những người đồng tính và những người đàn ông biến thái nhằm buộc họ phải từ bỏ điều được coi là trụy lạc, được coi sản phẩm của chủ nghĩa tư bản suy đồi về mặt đạo đức.

Tại sao các cuộc cách mạng mang tính cải cách đều thích giết cả những người trí thức cánh tả và những “nhóm dễ bị tổn thương” vốn gần gũi như thế với trung tâm của cánh tả? Bởi vì quyền lực có logic riêng của nó. Bởi vì tất cả các chính phủ dựa vào bạo lực đều phải thường xuyên ngó lại phía sau. Và điều đó có nghĩa là nó phải kêu gọi những bản năng thấp kém nhất của quần chúng. Nếu quần chúng ghét người đồng tính, hay người Do Thái, hay các nhà trí thức thì chính phủ sẽ làm những gì nó nói, nó sẽ đưa những người đồng tính, người Do Thái và trí thức vào trại khổ sai. Những người thấp hèn nhất ghét cái gì thì chính phủ toàn trí toàn năng ghét cái ấy.

Tại sao các nhà trí thức lại không nhìn thấy mô thức hành động khủng khiếp này? Có lẽ, họ hy vọng rằng lần này khác và lần này những người cấp tiến trong các trường đại học và các chính trị gia sa lông của họ sẽ nắm được dây cương. Nếu lịch sử là người dẫn đường thì những người đó sẽ không giữ được dây cương. Không những thế, những nhà chính trị chuyên nghiệp sẽ giật mất cuộc cách mạng của họ và biến nó thành cơn ác mộng khủng khiếp nhất đối với họ: biến thành cuộc cách mạng phản-trí-tuệ, chống người đồng tính, phân biệt chủng tộc và bài Do Thái. Dù khởi nguồn của cách mạng có trong sạch đến đâu thì lịch sử cũng cho thấy kết quả tất yếu là như thế.

Chẳng có gì vui cả. Không ai trong chúng ta muốn những người cánh tả cấp tiến bị treo lên cột đèn hay bị giết trong văn phòng của Che cho ông ta xem. Chúng ta muốn là những nhà cải cách ủng hộ bạo lực sẽ phải có thái độ thận trọng hơn nữa với mồi lửa mà họ đang nhóm lên. Họ nên nghiên cứu thêm một chút về lịch sử. Để hiểu lý do tại sao, lúc nào và ở đâu nó cũng như thế, để hiểu cưỡi lên con hổ mang tên chính phủ có quyền lực không hạn chế là việc nguy hiểm đến mức nào.

Những người cánh tả nghĩ rằng họ có thể kiểm soát được con hổ mang tên quần chúng đã được phá cũi sổ lồng. Nhưng họ không thể kiểm soát được và trên thực tế, họ sẽ là người đầu tiên bị treo lên cột đèn. Và đấy là điều rất đáng buồn cho tất cả chúng ta, cả những người tả khuynh lẫn hữu khuynh.

Tác giả: Peter St. Onge

Người dịch: Phạm Nguyên Trường

Đặc điểm người Việt qua nhận xét của Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ


Khi nhìn nhận bất cứ một vấn đề gì chúng ta cũng phải có cái nhìn khách quan, đầy đủ hai mặt của vấn đề, trên nhiều phương diện giữa tốt và xấu, tích cực và tiêu cực, từ đó rút ra vậy cái gì nên phát huy và cái gì nên hạn chế.
2015/01/img_7116.jpg 
Cách đây hai mươi năm, Trung Quốc có sách “Người Trung Quốc Xấu Xí” của tác giả Bá Dương (Bo Yang). Ở Mỹ có cuốn sách nổi tiếng tương tự là: “The ugly American” của WILLIAM J. LEDERER AND EUGENE BURDICK xuất bản năm 1958 đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất thời đó. Dường như có nhiều liên quan giữa sự can đảm nhìn nhận ra những yếu kém của chính mình và sức vươn lên mạnh mẽ cho dân tộc.
2015/01/img_7117.jpg 
Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Institute for Social Research) sau khi nghiên cứu đã nói lên 10 đặc tính căn bản của người Việt, xin tạm dịch như sau:
1.- Cần cù lao động nhưng dễ thỏa mãn.
2.- Thông minh, sáng tạo khi phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn, nhưng thiếu những khả năng suy tư dài hạn và linh hoạt.
3.- Khéo léo nhưng ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng các thành phẩm của mình.
4.- Vừa thực tế vừa có lý tưởng, nhưng lại không phát huy được xu hướng nào thành những nguyên lý.
5.- Yêu thích kiến thức và hiểu biết nhanh, nhưng ít khi học sự việc từ đầu đến cuối, nên kiến thức không có hệ thống hay căn bản. Ngoài ra, người Việt không học vì lợi ích của kiến thức (lúc nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện hay vì những công việc tốt).
[when small, they study because of their families; growing up, they study for the sake of prestige or good jobs]
6. Cởi mở và hiếu khách nhưng sự hiếu khách của họ không kéo dài.
7. Tiết kiệm, nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô nghĩa (vì sĩ diện hay muốn phô trương). [to save face or to show off].
8.- Có tinh thần đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau chủ yếu trong những tình huống khó khăn và nghèo đói, còn trong điều kiện tốt hơn, đặc tính này ít khi có.
9.- Yêu hòa bình và có thể chịu đựng mọi thứ, nhưng thường không thẳng thắn vì những lý do lặt vặt, vì thế hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ.
10.- Và sau cùng, thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh (một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 3 người làm thì kém, 7 người làm thì hỏng việc).
[one person can complete a task excellently; 3 people do it poorly, and 7 people make a mess of it].
Những phân tích trên đây cho chúng ta thấy người Mỹ đã hiểu rất rõ người Việt. Tại sao người Việt lại có những đặc tính như thế này?
Người xưa cũng đã nhận ra:
Học giả Trần Trọng Kim (1883 – 1953) khi viết bộ Việt Nam Sử Lược, ấn hành lần đầu tiên năm 1919, cũng đã phân tích khá rõ ràng những đặc tính của người Việt và những yếu tố tạo nên những đặc tính đó. Đa số người lớn tuổi, khi còn nhỏ đều đã được học bộ sử này. Tôi chỉ xin trích lại dưới đây một số đoạn chính ông viết về đặc tính của người Việt.
2015/01/img_7118.jpg 
Trong bài tựa, ông nói ngay:
“Người mình có ý lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết làm gì. Ấy cũng là vì xưa nay mình không có quốc văn, chung thân chỉ đi mượn tiếng người, chữ người mà học, việc gì cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự mình thì không có cái gì là cái đặc sắc, thành ra thật rõ như câu phương ngôn: “Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng!”
“Cái sự học vấn của mình như thế, cái cảm tình của người trong nước như thế, bảo rằng lòng vì dân vì nước mở mang ra làm sao được?”
“Thời đại Bắc thuộc dai dẳng đến hơn một nghìn năm, mà trong thời đại ấy dân tình thế tục ở nước mình thế nào, thì bấy giờ ta không rõ lắm, nhưng có một điều ta nên biết là từ đó trở đi, người mình nhiễm cái văn minh của Tàu một cách rất sâu xa, dẫu về sau có giải thoát được cái vòng phụ thuộc nước Tàu nữa, người mình vẫn phải chịu cái ảnh hưởng của Tàu. Cái ảnh hưởng ấy lâu ngày đã trở thành ra cái quốc túy của mình, dẫu ngày nay có muốn trừ bỏ đi, cũng chưa dễ một mai mà tẩy gội cho sạch được. Những nhà chính trị toan sự đổi cũ thay mới cũng nên lưu tâm về việc ấy, thì sự biến cải mới có công hiệu vậy.”
Ở Chương VI nói về “Kết Quả của Thời Bắc Thuộc”, ông có nhận định rõ hơn:
“Nguyên nước Tàu từ đời Tam Đại đã văn minh lắm, mà nhất là về đời nhà Chu thì cái học thuật lại càng rực rỡ lắm. Những học phái lớn như là Nho giáo và Lão giáo, đều khởi đầu từ đời ấy. Về sau đến đời nhà Hán, nhà Đường, những học phái ấy thịnh lên, lại có Phật giáo ở Ấn độ truyền sang, rồi cả ba đạo cùng truyền bá đi khắp cả mọi nơi trong nước. Từ đó trở về sau nước Tàu và những nước chịu ảnh hưởng của Tàu đều theo tông chỉ của những đạo ấy mà lập ra sự sùng tín, luân lý và phong tục tương tự như nhau cả…”
2015/01/img_7119.jpg 
“Khi những đạo Nho, đạo Khổng, đạo Phật phát đạt bên Tàu, thì đất Giao châu ta còn thuộc về nước Tàu, cho nên người mình cũng theo những đạo ấy. Về sau nước mình đã tự chủ rồi, những đạo ấy lại càng thịnh thêm, như là đạo Phật thì thịnh về đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê và nhà Lý, mà đạo Nho thì thịnh từ đời nhà Trần trở đi.
“Phàm phong tục và chính trị là do sự học thuật và tông giáo mà ra. Mà người mình đã theo học thuật và Tông giáo của Tàu thì điều gì ta cũng noi theo Tàu hết cả. Nhưng xét ra thì điều gì mình cũng thua kém Tàu, mà tự người mình không thấy có tìm kiếm và bày đặt ra được cái gì cho xuất sắc, gọi là có cái tinh thần riêng của nòi giống mình, là tại làm sao? …
2015/01/img_7120.jpg 
“Người mà cả đời không đi đến đâu, mắt không trông thấy cái hay cái dở của người, thì tiến hóa làm sao được? Mà sự học của mình thì ai cũng yên trí rằng cái gì đã học của Tàu là hay, là tốt hơn cả: từ sự tư tưởng cho chí công việc làm, điều gì mình cũng lấy Tàu làm gương. Hễ ai bắt chước được Tàu là giỏi, không bắt chước được là dở. Cách mình sùng mộ văn minh của Tàu như thế, cho nên không chịu so sánh cái hơn cái kém, không tìm cách phát minh những điều hay tốt ra, chỉ đinh ninh rằng người ta hơn mình, mình chỉ bắt chước người ta là đủ.
“Địa thế nước mình như thế, tính chất và sự học vấn của người mình như thế, thì cái trình độ tiến hóa của mình tất là phải chậm chạp và việc gì cũng phải thua kém người ta vậy.”
Đọc cuốn “Lều chõng”, một tiểu thuyết phóng sự của nhà văn Ngô Tất Tố (1894 – 1954), chúng ta có thể thấy rõ nền học vấn của người Tàu mà người Việt rập khuôn theo đã kềm hảm con người như thế nào. Ông vốn là một nhà Nho, đã từng tham dự các kỳ thi Hương dưới triều Nguyễn, nên đã phản ánh một cách trung thực những oái ăm của các kỳ thi này và nêu lên sự sụp đổ tinh thần của những nho sĩ suốt đời lấy khoa cử làm con đường tiến thân nhưng lại bị hoàn thất vọng .
2015/01/img_7121.jpg 
Trước là làm đẹp sau là ấm thân”
Nước Việt Nam bị Pháp đô hộ gần 100 năm, đã cởi bỏ nền học vấn của Trung Hoa, tiếp thu nền học vấn mới của phương Tây, nhưng vẫn còn giữ lại nhiều nét căn bản của nền văn hóa Trung Hoa. Có nhiều hủ tục trong quan, hôn, tang, tế mà cuộc Cách Mạng Văn Hoá của Trung Quốc đã phá sạch, nhưng nhiều người Việt vẫn cố giữ lại như những thứ “quốc hồn quốc túy”.
2015/01/img_7122.gif 
Bài tục giao sau đây vẫn còn là tiêu chuẩn và mục tiêu thăng tiến của gia đình và con người Việt Nam:
Con ơi! muốn nên thân người
Lắng tay nghe lấy những lời mẹ cha
Gái thì giữ việc trong nhà
Khi vào canh cửi khi ra thêu thùa
Trai thì đọc sách ngâm thơ
Dồi mài kinh sử để chờ kịp khoa
Mai sau nối được nghiệp nhà
Trước là đẹp mặt sau là ấm thân
2015/01/img_7123.jpg 
Bây giờ người con gái không còn chỉ “giữ việc trong nhà”, và người con trai không còn chỉ “đọc sách ngâm thơ” mà đã đi vào khắp mọi lãnh vực của cuộc sống, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn chỉ là “Trước là đẹp mặt sau là ấm thân”.
2015/01/img_7124.jpg 
Tiêu chuẩn của cuộc sống hiện nay của nhiều người, nhiều gia đình là có nhà sang cửa rộng, có xe hơi, có con đi du học nước ngoài… Đi đâu cũng nghe khoe nhà trên cả tỷ bạc, xe loại sang trọng nhất, con đang học bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư… Gần như không nghe ai khoe những công trình đang nghiên cứu hay thực hiện để đưa con người, cộng đồng và đất nước đi lên. Tất cả chỉ tập trung vào hai tiêu chuẩn là “đẹp mặt” và “ấm thân”.
Nếu mỗi gia đình và mỗi cá nhân chỉ lấy những mục tiêu như trên làm mục tiêu của cuộc sống và truyền từ đời nọ sang đời kia, còn lâu cộng đồng và đất nước với ngóc đầu lên được.
2015/01/img_7125.jpg 
Chúng ta không mong người Việt có những nhà phát minh làm thay đổi nhân loại như: John V. Blankenbaker (phát minh ra máy vi tính 1971), Bill Gates, Steve Jobs…, chúng ta chỉ mong người Việt biết quan tâm đến cộng đồng, đất nước và nhân loại nhiều hơn. Nhưng điều này quá khó. Đúng như người Mỹ đã nhận xét:
Người Việt vì những lý do vớ vẩn, có thể hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ (như kiếm chút danh chẳng hạn). [sacrifice important goals for the sake of small ones]
Người Việt thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh. Một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 3 người làm thì kém, 7 người làm thì hỏng việc!
Chúng ta trông chờ vào thế hệ sắp đến, không bị vướng mắc với quá khứ, học được nhiều cái hay của xứ người, sẽ đưa cộng đồng và đất nước đi vào một hướng đi mới tốt đẹp hơn.
Posted by Việt Anh
http://thanhnientudo.com

Đạo hiếu ở Trung Quốc thời xưa



Donald Holzman 
  Nếu lòng mong muốn tìm kiếm một cái gì vĩnh cửu hoặc có ý nghĩa tuyệt đối vượt lên trên cuộc sống hàng ngày dường như là một hiện tượng phổ biến ở loài người thì mỗi nền văn minh lại có một cách tìm kiếm khác nhau. Nghiên cứu một trong những cách thức mà người Trung Hoa đã dùng để đạt tới ý nghĩa cao xa ấy của cuộc sống sẽ giúp chúng ta hiểu biết phần nào những nền tảng của nền văn minh Trung Quốc và đồng thời cả nền văn minh của chúng ta.
Trong quá trình lịch sử mấy nghìn năm, người Trung Quốc đã theo nhiều loại tín ngưỡng. Đạo hiếu chắc chắn là một tín ngưỡng cổ xưa nhất. Theo các nhà khảo cổ, một ngôi mộ ở Bàn Sơn miền đông Cam Túc đã chứng minh rằng ngay đầu thiên niên kỷ thứ ba, người Trung Quốc đã có tục lệ thờ cúng tổ tiên. Đạo hiếu chính là nền tảng của tín ngưỡng cổ xưa nhất ở Trung Quốc. Thờ Thượng đế nhất thiết phải thờ qua tổ tiên, nhà vua đứng trung gian giữa Trời và người. Có những bằng chứng cho thấy đạo hiếu đã có từ thời đầu lịch sử Trung Quốc dù rằng chữ hiếu không thấy có trong các văn bản cổ xưa nhất là những lời bói toán khắc trên xương. Một học giả Trung Quốc cho biết vào năm 1974, trên các đồ chứa đựng bằng đồng có từ 1000 năm trước C.N., ông đã đếm được 64 bản văn có chữ hiếu trong những văn cảnh chỉ rõ là hiếu đối với cả những người còn sống trong gia đình (cha, mẹ, anh) cũng như đối với tổ tiên.
 Ngày nay khó có thể hiểu được đạo hiếu ở Trung Hoa thời xưa chính xác nghĩa là gì. Những bản văn nói về đời sống hàng ngày quả hiếm không cho phép dựng lại chi tiết cuộc sống hàng ngày của một gia đình Trung Quốc cách đây 3000 năm chẳng hạn. Tuy nhiên cũng có những bản văn giúp ta hình dung được cảm nghĩ của người Trung Quốc thời đó đối với cha mẹ và cho ta một hình ảnh về đời sống gia đình của họ khá giống đời sống gia đình người Trung Quốc ngày nay. Ví dụ bài đoản ca số 202 trong phần Tiểu nhã của Kinh thi có kể câu chuyện xúc động của một em bé mồ côi khóc cha mẹ và quyển Thượng thư có nhiều chỗ nói đến đạo hiếu, phần quan trọng nhất (và có lẽ là phần cổ xưa nhất) là đoạn trong bài Khang cáo. Đoạn này không những so sánh những đứa con bất hiếu với những kẻ “tội phạm nặng nhất” mà còn nghiêm trách thái độ của đứa con hư “làm đau lòng cha mẹ”.
 Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng trong những câu chuyện xa xưa ấy về những người con hiếu thảo có những điều khó chấp nhận hoặc khó hiểu đối với ai không phải là người Trung Quốc. Phần ghi chép rất muộn về sau này của cuốn Thượng thư đã kể lại chuyện của Thuấn – một anh hùng văn hóa – đồng thời cũng là một người con nhẫn nhục đến khó hiểu đối với người cha mù và bà dì ghẻ độc ác. Đó là câu chuyện điển hình về người con có hiếu. Quyển Tả truyện thời Xuân Thu, thường được coi là ra đời vào giữa thế kỷ thứ 4 trước C.N. song có một số đoạn có thể coi ở vào thế kỷ thứ 8, là một trong số những tác phẩm cổ hiếm hoi giúp chúng ta hiểu về đời sống hàng ngày thời xưa, cũng kể những câu chuyện khó tin như vậy.
 Không phải ngẫu nhiên mà truyện đầu tiên trong Tả truyện là chuyện về lòng hiếu thảo. Câu chuyện kể lại hành vi của Trịnh Trang Công vẫn giữ tròn chữ hiếu với người mẹ đáng lý ra phải bị trừng phạt vì đã đối xử rất tàn tệ đối với ông. Vậy mà các nhà phê phán, và trước tiên là tác giả cuốn Tả truyện, còn chê trách hành vi của ông là chưa đúng mức. Cũng khó mà tin được các chuyện về Cấp Tử (695 trước C.N.) hay Thân Sinh (659 và 655 trước C.N.) thà chịu chết chứ không chịu khước từ những yêu sách quá đáng của cha. Những câu chuyện như vậy đã biến đạo hiếu thành sự tuân thủ mù quáng đối với cha mẹ.
 Những ví dụ đầu tiên đó về vai trò quan trọng của chữ hiếu đã được các triết gia thời Hoàng kim xác nhận mạnh mẽ. Tất cả các trường phái triết học, kể cả đạo Lão đả phá sự sùng tín lẫn phái Pháp gia bài truyền thống, đều coi lòng hiếu thảo là một tình cảm tự nhiên và tất yếu của con người. Thực vậy, gắn chữ hiếu với chữ trung, phái Pháp gia đã đem lại cho nó một vị trí quan trọng mà nó chưa từng có và rồi được duy trì mãi cho đến ngày nay trong công việc chấp chính của nhà nước.
 Đối với Khổng Tử, chữ hiếu là nền tảng triết lý của ông, nhưng các ý kiến của ông cho thấy rằng, đối với ông, đức tính này phải vượt lên trên sự hợp lý thông thường và phải được coi là một cái gì bất khả xâm phạm. Mọi người đều thừa nhận rằng trong tác phẩm Luận ngữ của ông, Khổng Tử đã để lại cho Trung Quốc và thế giới những câu châm ngôn ý nghĩa cao cả, giàu nhân tính và có sức truyền cảm sâu sắc trong lịch sử loài người. Nhưng tôi nghĩ những lời dạy của ông về đạo hiếu quá cứng nhắc và độc đoán, tưởng như thốt ra từ miệng một người khác, một môn đệ nào đó cố bám lấy lời văn của đạo Khổng mà quên mất tinh thần của nó.
 Nhưng tôi không dám chắc rằng đúng là như thế. Cũng có thể vì chữ hiếu đóng một vai trò cơ bản trong tư tưởng của người Trung Quốc nói chung và tư tưởng của ông nói riêng nên Khổng Tử mới dùng đến cái giọng quyết đoán hoàn toàn xa lạ với các ngôn luận khác của ông chăng? Và phải chăng chính vì người Trung Quốc coi chữ hiếu như một điều tuyệt đối, một cái gì đã được tất cả chấp nhận, không phải bàn cãi gì nữa nên đức tính ấy mới tạo ra một kiểu anh hùng đạo lý, hoặc thánh hiền đặc biệt? Nghiên cứu kỹ về các “thánh hiền” này là điều rất lý thú và sẽ giúp chúng ta hiểu được một khía cạnh cơ bản trong tư tưởng Trung Hoa.
 Trong quyển Tả truyện, chúng ta đã gặp ba người xử sự một cách hết sức kỳ lạ, trong đó có hai người đã phải tự tử để mù quáng tuân theo các ý muốn đôi khi rất phi lý của cha mẹ. Những tấm gương hy sinh như vậy không thiếu trong thời xa xưa, nhưng phải chờ đến đế chế thì những chuyện về đạo hiếu mới phổ biến và được ghi lại chi tiết đến mức chiếm một chương riêng ở 20 bộ sử trong số 24 bộ sử các triều đại, không kể những tuyển tập nói riêng về chữ hiếu rất thịnh hành chẳng khác gì cuốn Cuộc đời của các vị Thánh rất phổ biến ở châu Âu mãi cho đến một thời kỳ rất gần đây. Sở dĩ đạo hiếu được miêu tả chi tiết trong thời đế chế, là vì nó đã được thể chế hóa thành đạo “vua tôi”, được ban thưởng những ân huệ và chức tước dẫn đến những địa vị cao sang trong bộ máy nhà nước.
 Những ví dụ cổ xưa nhất về đạo hiếu cực đoan mà tôi đọc được trong các bộ sử các triều vua là ở quyển Hậu Hán thư, chủ yếu ở chương 39, chương nói riêng về đạo hiếu và có lẽ được viết vào giữa thế kỷ thứ 4 trước C.N.
 Lời tiểu dẫn của chương 39 kể lại hai tấm gương. Tấm gương thứ nhất là một người đi làm quan trong triều chỉ cốt để có điều kiện chăm lo cho mẹ mà không hề nghĩ đến danh vọng cá nhân. Gương thứ hai là một chuyện điển hình đến nỗi tôi xin trích dẫn nguyên văn:
 “Dưới thời An Đế (trị vì từ 107 đến 126 C.N.) có một người tên là Tiết Bao, quê ở Nhữ Nam, miền nam Hà Nam, tính cần cù hiếu học và thật thà. Khi mẹ chết, anh nổi tiếng là người con có hiếu trong suốt thời kỳ cư tang. Cha anh tục huyền. Bà mẹ ghẻ ghét anh và đuổi anh ra khỏi nhà. Anh khóc ngày khóc đêm, không bỏ đi nổi, đến nỗi người ta phải vác gậy đuổi anh đi. Anh trú thân trong một túp lều gần nhà cha. Cứ sáng sáng anh lại vào nhà cha quét dọn khiến cho ông này nổi giận và lại đuổi anh đi. Cuối cùng anh sống trong một túp lều dựng cạnh cổng, sáng chiều luôn chào hỏi cha mẹ. Sau một năm xử sự như vậy, cha mẹ anh cảm thấy xấu hổ và cho anh trở về nhà”.
 Sau này khi cha và dì ghẻ chết, anh để tang lâu gấp hai hay ba lần lệ thường. Tiết Bao là ví dụ điển hình về những người con hiếu được kể trong các thư tịch thời kỳ này. Thực ra, nếu đem so Tiết Bao với những người khác được nói đến trong Hậu Hán thư thì hành vi của anh cũng gần như là bình thường.
 Ta đọc được những chuyện trẻ em bốn tuổi không chịu ăn uống gì khi cha mẹ ốm hay chuyện người đàn ông “ăn chay hơn 10 năm sau khi cha chết và giỗ cha bằng cách nhịn đói ba ngày”. Còn nhiều chuyện khác lạ lùng hơn nữa như chuyện Dương Trấn (chết năm 124) xuất thân trong một gia đình công thần lâu đời nhà Hán nhưng lại chọn nghề dạy học để lánh xa đời sống chính trị.
  Mất cha từ lúc còn trẻ và nghèo, anh sống một mình với mẹ. Một người học trò của anh muốn trồng bắp cải giúp anh trên mảnh đất nhỏ anh mướn để sinh sống. Nhưng mỗi lần học trò anh trồng cái gì thì anh lại nhổ đi đem trồng chỗ khác xa hơn. Những người láng giềng lấy anh làm tấm gương hiếu thảo. Như vậy có nghĩa là, để tỏ lòng hiếu thảo Dương Trần không để mẹ anh ăn những bắp cải không phải do tự tay anh trồng.
 Nhổ bắp cải đi để trồng lại là một biểu hiện của hiếu thảo thực ra cũng vô hại, nhưng có một ví dụ khác hiếu đễ thái quá có thể dẫn đến cái chết. Ví dụ nổi tiếng nhất là câu chuyện người con gái tên là Tào Nga, sống ở một vùng gần Thiệu Hưng, thuộc tỉnh Triết Giang ngày nay. Cha cô là một pháp sư bị chết đuối vào ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch (ngày 6 tháng 6 năm 143) trong khi làm lễ tế Hà bá. “Người ta không vớt được xác ông. Con gái ông là Tào Nga, lúc bấy giờ 13 tuổi, cứ quanh quẩn bên bờ sông suốt ngày đêm, khóc than không ngớt. Và 7 ngày sau thì cô bé gieo mình xuống sông tự vẫn”.
 Một cô gái khác ở một vùng thộc tỉnh Tứ Xuyên ngày nay, đã nhảy xuống sông ở ngay chỗ cha cô chết đuối và sáu ngày sau, người ta vớt được xác của cô bám chặt lấy xác người cha. Có thể kể thêm trường hợp một người con có hiếu khác bị chết đuối khi lội quá xa bờ sông lấy nước cho mẹ uống vì bà thích uống nước sông hơn nước giếng.
 Những trang sách trong Hậu Hán thư và thực ra toàn bộ lịch sử Trung Quốc đều đầy rẫy những ví dụ hy sinh, những chuyện mầu nhiệm và những sự hành hạ độc ác (thường là của dì ghẻ hoặc mẹ chồng), sự chịu đựng một cách nhẫn nhục, những vụ tự vẫn trở nên vô ích, ấy là còn chưa nói đến những biểu hiện kỳ quái về tình huynh đệ của những người chồng cứ muốn ngủ chung giường với anh em trai, chỉ đến với vợ khi cần sinh con đẻ cái.
 Nên nghĩ như thế nào về những hành vi kỳ lạ ấy? Những chuyện này đúng là làm cho chúng ta nhớ đến hành vi của các vị thánh đạo Cơ đốc thời cổ đại và Trung cổ. Họ đều đã hành xác một cách như hôn người hủi, nhịn đói, hoặc làm bao việc cực đoan khác mà vẫn cho là mình chưa chứng tỏ đầy đủ lòng yêu kính đấng Tạo hóa. Phải chăng đó là một hiện tượng tương tự như đạo hiếu ở Trung Quốc.
 Người ta thường nhận thấy rằng thế giới quan của người Trung Quốc đượm vẻ trần tục hơn thế giới quan của người phương Tây nhiều. Người Trung Quốc thường hay coi trọng tính nội tại hơn tính siêu nghiệm và khi nâng tâm hồn về phía “Tạo hóa”, họ không chịu có bước nhảy siêu hình mà người châu Âu cho là đương nhiên, mà lại quay về với những người sinh tạo ra họ, tức cha mẹ họ.
 Sách Hiếu kinh, một tác phẩm tầm thường có từ cuối thời kỳ cổ đại hoặc đầu thời kỳ Đế chế được phổ biến rộng rãi khác thường trong suốt lịch sử Trung Quốc, cũng đã nói đúng như vậy.  Chương 9 có nói: “Tôn kính cha mình không có cách nào cao hơn là tôn người lên làm trung gian của Trời.” Nội dung Hiếu kinh cho thấy các tác giả nói đến những tục lệ tín ngưỡng lâu đời nhất của người Trung Quốc mà chúng ta biết được: những lễ tế tổ tiên của các triều đại để các vị đó xin trời phù hộ cho con cháu họ. Ở đó có một quan niệm thần bí về vai trò của người cha được coi nếu không phải là Trời thì cũng là đại diện của Trời. Như vậy là, người Trung Quốc hầu như đã thần thánh hóa cha mẹ. Hành vi nói lên một cố gắng, cũng như ở người phương Tây, nhằm vượt lên trên bản thân mình để ca ngợi những kẻ sinh tạo ra mình tức là cha mẹ họ.

Chú thích:
 (*)  DONALD HOLZMAN, sinh tại Chicago (Mỹ), là Giám đốc Viện Cao đẳng Hán học Paris, Khoa trưởng Trường Cao đẳng Khoa học xã hội Paris, giáo sư về “Các thể chế ở nước Trung Hoa đế chế” tại trường này.
Nguồn: triethoc.edu.vn

Lộ trình châu Âu văn minh hóa



Trong văn hóa xã hội, tất cả các quốc gia đều phải trải qua các giai đoạn phát triển theo thứ tự, trong đó tại Âu châu trải qua các thời kỳ: 
1. Thời Huyền sử, trước thế kỷ 8 trước Công nguyên.
2. Thời Cổ đại, từ thế kỷ 8 trước Công nguyên đến thế kỷ 5 sau Công nguyên.
3. Thời Trung cổ từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 15.
4. Thời Phục hưng từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 16.
5. Thời Cải cách từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 17.
6. Thời Khai sáng từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 18.
7. Thời Cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20.
8. Thời Hiện đại từ đầu thế kỷ 20 đến hiện nay.


Để ra khỏi Thời Trung cổ, Châu  đã phải qua nhiều thời kỳ, mỗi thời kỳ nhiều trăm năm. Bắt đầu từ những le lói ánh sáng văn hóa, văn minh của Thời đại Nhân Văn, Chủ nghĩa Nhân Văn (Humanism) phát xuất từ bên Ý, do Francesco Petrarca (1304-1374)  đề xướng. giữa thế kỷ 14 rồi đến khoảng đầu thế kỷ 15 từ Florence bên Ý với sự góp sức của một số nhà Nhân văn học như Saint Thomas Aquinas, Giotto di Bondone, Francesco Petrarca, Leonardo Bruni, Manuel Chrysoloras, Desiderius Erasmus, Filippo Brunelleschi, Lorenzo Valla, Poggio Bracciolini, một số nghệ thuật gia mới tạo thành phong trào bi quan ca thán cho hiện tại vào lúc đó, và hồi tưởng lại dĩ vãng oai hùng của nước Ý cách đó gần một ngàn năm, và văn minh Hy lạp cách đó hơn một ngàn năm trăm năm.   



Từ đó họ tạo thành Phong trào Phục hưng kéo dài 200 năm từ thế kỷ 15 sang thế kỷ 16, với sự trỗi dậy mạnh mẻ, bừng tỉnh, của các phong trào nhân văn, xã hội, nghệ thuật, khoa học, triết học, chẳng những tại quốc gia họ mà còn lan ra toàn Âu châu. Nhân dân Âu châu sau thời gian ngủ yên một ngàn năm trong Thời Trung cổ bổng trở mình, phát triển mạnh mẽ trong nhiều lãnh vực như kiến trúc, văn học, âm nhạc, hội họa, triết học, khoa học, kỹ thuật, vũ khí. Đây là thời kỳ cực thịnh của châu Âu, dọn đường cho Thời Khai sáng sau này.  





Thời Khai sáng chính là quá trình bứt phá khỏi quá khứ với quyền lực cai trị của giới địa chủ, lãnh chúa, chức sắc tôn giáo như Thời Phục hưng trở về trước sang một thế giới quyền lực cai trị vào tay những ai có khả năng nhất, bao gồm các triết gia hoặc học trò của họ. Đây cũng là thời đại các quốc gia hùng mạnh được hình thành như Pháp, Anh, Ý, Đức, Tây Ban Nha ngày nay. Chen giữa Thời Phục hưng và Khai sáng là Thời Cải cách chủ yếu tranh đấu bình đẳng trong tôn giáo. 


Nhìn lại quá trình phát triển từ thời Trung cổ đến thời kỳ Khai sáng để bước vào thời kỳ Cách mạng công nghiệp rồi sau đó là thời Hiện đại từ thế kỷ 20 đến nay ở châu Âu kéo dài suốt hơn 600 năm với các nhân vật khởi xướng Thời đại Nhân Văn  là Francesco Petrarca, kế tiếp đến Cải cách, cách mạng công nghệ và người khởi xướng phong trào Khai sáng là René Descartes đều không từng là các chính trị gia. Họ là những nhà nhân văn, khoa học, công nghệ, hoạt động của họ nhằm khai sáng, mở mang đầu óc, trí tuệ người dân, chứ không nhằm quản trị dân, quản trị quốc gia.

Từ Fukuzawa Yukichi nhìn về Nguyễn Trường Tộ




Nguyễn Cảnh Bình

Có thể nói, ở hai ông Nguyễn Trường Tộ và Fukuzawa Yukichi (Phúc-Trạch Dụ-Cát). Có  rất  nhiều sự tương đồng về thời đại, về đất nước, về tình hình thế giới bởi cả hai sống cùng trong một giai đoạn lịch sử. Từ thực tế trên, việc so sánh hai nhân vật lịch sử này, đồng thời cũng là những nhà tư tưởng về cải cách, mở cửa có thể mang lại cho chúng ta nhiều điều thú vị.


Những điểm tương đồng
Có thể nói, Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ là hai người sinh cùng thời, và cả hai đều học rất giỏi. Điều thú vị nữa là hai người đều sinh ra từ một vùng đất có truyền thống, chứ không không phải ở thủ đô. Hai ông không xuất thân từ gia đình quá giàu có, nhưng cũng không phải ở gia đình quá nghèo.
Hai nước Nhật và Việt Nam ở thời mà các ông sinh sống thì cũng có một vài điểm tương đồng. Thí dụ như hai nước cùng đóng cửa với thế giới, nhưng bắt đầu bị các quốc gia phương Tây nhòm ngó.
Tại Nhật, năm 1853, hạm đội Mỹ xuất hiện gây một cú sốc lớn trên khắp nước Nhật. Anh trai thúc giục Fukuzawa tới Nagasaki học tiếng Hà Lan để nắm vững về súng ống phương Tây. Khi đó, ông mới 23 tuổi. Đến tháng 8-10/1858, Fukuzawa được bổ nhiệm làm người dạy tiếng Hà Lan cho lãnh địa Nakatsu. Tháng 7/1859: Nhật mở cửa ba cảng biển theo các điều khoản của "Hiệp ước hoà bình và hữu nghị", được ký một năm trước đó với Mỹ và một số nước châu Âu.                
Ở Việt Nam, năm 1858, Pháp đánh Đà Nẵng. Nguyễn Trường Tộ lúc đó 30 tuổi, Nhà thờ xã Đoài mời ông làm giáo viên dạy chữ Hán. Giám mục Gauthier dạy ông tiếng Pháp và khoa học thường thức phương Tây.
Hai người cùng đi nước ngoài hầu như cùng thời điểm, như vậy cả Nguyễn Trường Tộ và Fukuzawa có điều kiện tiếp xúc Tây học từ sớm, biết tiếng Hà Lan, tiếng Anh, tiếng Pháp. Lại có dịp được ra nước ngoài nên hai ông có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với văn minh, với thế giới vật chất và công nghệ của phương Tây, từ đó hình dung trong đầu những hoạt động, những tư tưởng mang tinh thần cải cách.
Đầu năm 1860, trong khuôn khổ các điều khoản của hiệp ước, chính quyền Shogun quyết định phái sứ giả sang Mỹ. Fukuzawa tình nguyện đi theo đoàn sang San Francisco, Mỹ. Từ Mỹ về trong năm đó, ông dịch và xuất bản cuốn sách đầu tay “Kaeitsugo”. Khoảng ba năm đầu sau đó, Fukuzawa chỉ chuyên tâm học hành và viết cuốn sách đầu tiên.  
FUKUZAWA YUKICHI
(1835-1901)
Sinh tại thành phố Osaka, trong một gia đình Samurai cấp thấp.  Đến năm 1837, cha ông qua đời đột ngột ở tuổi 44. Cuộc sống khó khăn, ông phải giúp gia đình và cho mãi đến năm 14 tuổi mới được đến trường. Không chỉ dừng lại ở một nhà tư tưởng, Fukuzawa đã bắt tay làm rất nhiều việc, từ mở trường dạy học, lập tờ báo, dịch sách để hướng những đề xuất, ý tưởng, giải pháp của mình vào đông đảo người dân và trí thức Nhật Bản, từ đó tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh chóng về nhận thức, hành động và phát triển của người dân cũng như đất nước Nhật Bản.
Trong những năm 1861-1863, ông sang châu Âu theo đoàn đàm phán mở thêm cảng biển và điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Ông đến các nước như Pháp, Anh, Hà Lan, Đức, Nga và Bồ Đào Nha. Trong vai trò phiên dịch, Fukuzawa quan sát được rất nhiều điều mới mẻ và các thể chế tổ chức như bệnh viện, kho vũ khí, hầm mỏ, trường học. Dựa vào những điều chứng kiến trong chuyến đi, Fukuzawa xuất bản tập đầu tiên của tác phẩm Thực trạng phương Tây (Seiyo jijo). Tác phẩm này của ông được bán chạy nhất lúc bấy giờ. Đến năm 1866, ông hoãn việc viết tiếp tập hai cuốn Thực trạng phương Tây để giành thời gian dịch cuốn Kinh tế chính trị của J. H. Burton. Trong cuốn sách xuất bản năm 1867, ông thảo luận về “những cột trụ chính yếu” và mạng lưới xã hội vô hình thiết lập nên xã hội văn minh. Sau đó, ông tiến hành dịch các tác phẩm quan trọng của Anh cho người Nhật đọc, học tập và tiếp thu.      
Còn ở Việt Nam, những năm 1859-1860, Nguyễn Trường Tộ được giám mục Gauthier đưa qua Hương Cảng, Singapore, Thụy Sĩ. Trên đường đi ông có ghé Roma yết kiến Giáo hoàng rồi cuối cùng sang Paris theo học trong gần 2 năm.
Vào năm 1861, khi Đại đồn Kỳ Hoà thất thủ, ông nhận làm phiên dịch cho Pháp với mong muốn góp phần mình cho sự hoà hoãn hai bên. Ông viết thư gửi triều đình trong đó nêu ý kiến là nên hoà với Pháp. Sau đó, ông viết bản điều trần đầu tiên. Đến quãng năm 1862-1863, ông thôi không làm phiên dịch nữa vì thất bại trong việc điều đình. Thời gian này, ông tham gia xây cất tu viện ở Sài Gòn và dồn tâm trí soạn kế hoạch giúp phát triển đất nước. Vào tháng 3/1863, ông gửi triều đình văn bản “Bàn về tình thế lớn trong thiên hạ”. Tiếp đó, ngày 29/3/1863, ông gửi bản Trần tình. Một năm sau đó, ông gửi triều đình văn bản “Kế hoạch duy trì hoà ước mới”, và “Kế hoạch làm cho dân giàu nước mạnh”. Tất cả là những bản điều trần!
Và những khác biệt
Nhưng đáng tiếc thay, nếu so sánh với Fukuzawa, Nguyễn Trường Tộ có nhiều nhược điểm, thiếu sót. Điểm mấu chốt làm nên sự khác biệt giữa công cuộc Duy Tân Minh Trị ở Nhật và thời kỳ trì trệ của Tự Đức ở Việt Nam có lẽ cũng bắt nguồn từ chính sự khác biệt về lối tư duy và hành động của hai nhà trí thức đại diện này.
Năm 1867, Fukuzawa lại sang Mỹ, tới Washington và New York với nhiệm vụ thương lượng mua tàu chiến của chính phủ Mỹ. Nhưng mục đích chính của Fukuzawa là tìm mua sách cho các sinh viên và ông đã mua sách bằng tất cả số tiền mà ông có. Về nước, Fukuzawa mở trường KEIO. Chỉ trong năm đó (1867), số học sinh của trường đã lên đến 100. Thời gian này, ông chủ yếu đọc, viết sách và giảng dạy. Những cuốn sách miêu tả cuộc sống phương Tây của ông rất được người dân Nhật Bản yêu thích, điều đó cho thấy sự quan tâm của người dân đối với thế giới bên ngoài.
Với kinh nghiệm học được từ người phương Tây qua sách vở và những chuyến thị sát, ông đã nhiệt huyết truyền bá những tư tưởng tiến bộ bằng mọi cách có thể. Ông đã tách mình ra khỏi biến động chính trị cuối thời Mạc phủ Edo, thầm lặng dịch và viết sách.
Ngày 4/7/1868, cuộc nội chiến giữa hai phe cải cách và bảo thủ ở Nhật Bản bùng nổ. Fukuzawa đã nói với học sinh, lúc bấy giờ chỉ còn 18 người: “Cho dù có bất kỳ điều gì xảy ra, cho dù cuộc chiến tranh tàn phá đất nước ta như thế nào, chúng ta sẽ không bao giờ từ bỏ kiến thức của phương Tây. Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.                
Sau năm 1868,  Fukuzawa dành hết thời gian, sức lực cho công việc giảng dạy ở Keio và giúp lập thêm nhiều trường học mới. Ông cũng dịch và viết thêm nhiều sách về phương Tây, viết những sách giáo khoa cơ bản về rất nhiều lĩnh vực như vật lý, địa lý, nghệ thuật quân sự, nghị viện Anh, các mối quan hệ quốc tế. Sau đó, vào năm 1876, Fukuzawa xuất bản cuốn Khuyến học, tác phẩm nổi tiếng nhất. Ông thúc giục người Nhật học đọc, học viết, học những phép toán và bàn tính, cách để sử dụng khối lượng và dụng cụ đo đạc, rồi tiếp đến là học những lĩnh vực khoa học khác như địa lý, vật lý, lịch sử, kinh tế và đạo đức. Lúc này, ông 41 tuổi.
NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
(1828 - 1871)
Sinh tại Bùi Chu, Hưng Nguyên, Nghệ An. Ông học rất giỏi, ngoài việc học với cha ở nhà, ông còn theo học nhiều thầy đồ nổi tiếng trong vùng. Tuy mất sớm ở tuổi 43 nhưng ông đã đề xuất rất nhiều kế hoạch cải cách táo bạo, nhằm đưa đất nước thoát khỏi cảnh trì trệ, tiến lên trở thành một quốc gia dân giàu nước mạnh. Đáng tiếc, những bản điều trần của ông thời đó đã không được trọng dụng.
Về Nguyễn Trường Tộ, những công việc thì vẫn như vậy. Năm 1865, ông gửi triều đình văn bản “Về việc mua thuyền và đóng thuyền máy”.  Vào đầu năm 1866, khi được mời đến Huế, ông tiếp tục gửi văn bản “Kế hoạch khai thác tài nguyên đất nước”. Đến tháng 4/1866: ông thảo thư Tây Soái có châu phê của Vua. Đây vẫn là một bản điều trần và gửi thư cho Vua. Tháng 8/1866, Nguyễn Trường Tộ cùng giám mục Gauthier đến Huế, chuẩn bị đi Pháp, được vua Tự Đức tiếp kiến.
Từ tháng 9 đến hết năm 1866, ông tiếp tục gửi văn bản và thư tới triều đình, cụ thể như văn bản “về việc học thực dụng” và “Phải tạm thời dựa vào Pháp” và những bức thư về vấn đề khác nhau. Vào năm 1867,ông  cùng một số quan chức đáp tàu đi Pháp. Tháng 3 năm đó, ông tới Paris. Rồi đến ngày 15/11/1867, ông soạn văn bản “Tế cấp bát điều”. Tháng 2/1868, về tới Huế, ông được vua Tự Đức tặng thưởng. Tháng 3 năm sau đó, Nguyễn Trường Tộ viết: “Tổ chức gấp việc khai mỏ”.Trong các tháng 3-5/1868, ông viết nhiều văn bản thúc giục triều đình cử người đi Pháp học
Tiếp tục như vậy, suốt năm 1871, Nguyễn Trường Tộ viết rất nhiều văn bản đề xuất việc thông thương với Pháp như “Chỉnh đốn quân đội và quốc phòng”, “Canh tân và mở rộng quan hệ ngoại giao”, “Về chính sách nông nghiệp”; “nên mở cửa chứ không nên khép kín”. Rất tiếc, ngày 24/11/1871, Nguyễn Trường Tộ mất ở quê, hưởng thọ 41 tuổi. Nguyễn Trường Tộ mất sớm nhưng tôi tin rằng, dù ông còn sống, ông sẽ vẫn không làm gì khác hơn ngoài việc viết tấu trình.
Nguyễn Trường Tộ đã liên tiếp gửi lên triều đình Huế 30 bản điều trần đề xuất canh tân, xây dựng đất nước giàu mạnh và gần sáu chục bản điều trần khác đề cập đủ mọi lĩnh vực.
Tôi không nghĩ rằng ở thời đại Nguyễn Trường Tộ, việc mở trường có quá nhiều khó khăn. Việc dịch sách, ngược lại thì rất khó vì lúc đó hầu như chúng ta chỉ sử dụng tiếng Hán và phụ thuộc nhiều vào sách dịch của người Trung Quốc. Tại Trung Quốc, mãi đến những năm 1903, Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi mới ồ ạt triển khai dịch sách của phương Tây cho người Trung Quốc, điều này cho thấy Nguyễn Trường Tộ khó lòng làm được việc này ở Việt Nam thời điểm đó.
Còn Fukuzawa thì vào năm 1875 xuất bản cuốn "Văn minh khái luận" ra đời, nhằm thuyết phục trí thức Nhật Bản chấp nhận quá trình hiện đại hoá. Ngày 1/3/1882, Fukuzawa tự mình xuất bản tờ Jiji-shimpo. Trước đó, Fukuzawa muốn mở một tờ báo nhằm thúc đẩy việc sớm thiết lập Nghị viện nhưng kế hoạch này đã bị gác lại vì sự chia rẽ nội bộ. Năm 1885,  Fukuzawa viết bài báo gây rất nhiều tranh cãi Datsu - a - ron [Thoát Á Luận], kêu gọi Nhật Bản hãy học theo phương Tây và nhanh chóng hiện đại hóa…           
Đánh giá của hậu thế
Lịch sử biết đến Fukuzawa Yukichi như một nhà cải cách chính trị xã hội, nhà giáo dục tiên phong, nhà tư tưởng tiêu biểu của Nhật Bản từ cuối thời Edo, đầu thời Minh Trị, thời kỳ diễn ra những chuyển biến lớn lao trong lịch sử Nhật Bản. Tư tưởng của ông có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào Khai sáng ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tạo tiền đề cho Nhật Bản trở thành một cường quốc trên thế giới. Lòng biết ơn của người Nhật đối với Fukuzawa được thể hiện qua việc in hình ông trên tờ tiền 10.000 yen, dù ông không phải là một đấng quân vương hay võ tướng lỗi lạc của đất nước Mặt trời mọc.
Fukuzawa để lại ngôi trường Keio mà ngày nay là Đại học Keio (hiện trường Keio hệ chính thức có khoảng 28.000 sinh viên và 5.000 nghiên cứu sinh). Ông cũng để lại hàng chục cuốn sách dịch và nhiều sách do ông viết. Ông được coi là người khởi xướng cho việc dịch sách ở Nhật Bản, mang lại tác động to lớn cho xã hội Nhật Bản.
Còn đối với Nguyễn Trường Tộ, theo nhiều học giả và công chúng, các bản điều trần của ông nếu được áp dụng là một sách lược lớn biến Việt Nam thành một nước hùng cường, tạo nên chuyển biến quan trọng trong lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Học giả Lê Thước phê bình công nghiệp bình sinh của ông: "Nguyễn Trường Tộ là nhà khoa học, nhà chính trị và cũng là nhà tân học nước ta xưa. Tư tưởng và kiến thức của tiên sinh hơn người đồng thời muôn nghìn".
Tên của ông được đặt cho nhiều trường học và đường phố tại Việt Nam, nhưng chưa có đồng tiền nào mang hình ông mặc dầu ông cũng được coi là nhà tư tưởng tiến bộ, có tinh thần cách tân. Nguyễn Trường Tộ thường được trí thức Việt Nam coi là hình mẫu thất bại trong mong ước hiện đại hóa Việt Nam vào thế kỷ 19. Nhiều người cũng coi ông như bài học để chỉ ra sai trái của triều đình mà quên đi những sai lầm của chính ông.
Tư tưởng tiền nhân để lại
Fukuzawa tin rằng giáo dục là cách duy nhất để đạt tới văn minh, bởi bản chất của văn minh là sự phát triển kiến thức và đạo đức nội tại của dân tộc:
"Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, [do đó] bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người."
Fukuzawa là người đưa ra nguyên tắc nổi tiếng: "Độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân", tức là một xã hội muốn phát triển phải dựa trên những cá nhân có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, chứ không phải dựa vào chính phủ. Ông kêu gọi các sĩ phu Nhật Bản làm việc theo phương châm "coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ", tự tin vào sức mạnh cá nhân mà không phụ thuộc vào sức mạnh của người khác.
Tháng 5 năm 1863, Nguyễn Trường Tộ soạn xong ba văn bản để gửi lên Triều đình Huế: bản thứ nhất là Tế cấp luận, bản thứ hai là Giáo môn luận, bản thứ ba là Thiên hạ phân hợp đại thế luận. Trong ba bản đó, bản Tế cấp luận là văn bản quan trọng nhất. Nội dung của bản này đề cập đến việc canh tân và phát triển đất nước. Với Tế cấp luận ông đã khẳng định: "Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay... Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết".
Trong giáo dục, ông phản đối lối học tầm chương trích cú, đóng cửa khư khư giữ lấy cái sự học lỗi thời chỉ cốt có học vị bằng cấp. Ông chủ trương học để thực hành. Ngay cả bản thân, ông không hề đề tên ứng thí một khoa nào, không hề có bằng cấp gì nhưng kiến thức của ông sâu rộng mang tầm bách khoa, uyên thâm trong nhiều lĩnh vực.
Theo ông cần phải đưa vào chương trình giáo dục những tri thức về nông nghiệp, địa lý, thiên văn, công nghệ, luật pháp, nghĩa là những gì xã hội, cuộc sống hiện đại thực sự cần tới trước mắt và lâu đài, chứ không phải dùi mài tứ thư ngũ kinh với những giáo huấn xa vời của Khổng Mạnh. Ông cũng sớm đề xuất soạn Tự điển cho người học, nghiên cứu Hán học, Tây học.
Dường như toàn bộ sự nghiệp, tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ chỉ gói gọn trong mấy từ viết điều trần. Không thể đếm được ông đã viết bao nhiêu bản điều trần trong cuộc đời ngắn ngủi của ông, và dù những bản điều trần này được rất nhiều trí thức Việt Nam hiện đại ca ngợi là tư tưởng lớn thì cũng chỉ dừng lại ở mức độ đề xuất, chứ không phải là bắt tay vào làm (thực hiện). Trong khi đó, Fukuzawa đã dịch và viết nhiều sách, mở trường dạy học, lập báo, hợp tác và hướng dẫn các trí thức quốc gia láng giềng. Fukuzawa có gửi điều trần lên Thiên Hoàng nhưng không nhiều và không phải là hành động chính yếu của ông. Có thể khi đó, Minh Trị đã là một nhà vua anh minh nhưng ở Fukuzawa, tư duy là hành động. Điều quan trọng hơn nữa, đó là Fukuzawa hướng những đề xuất, ý tưởng, giải pháp của mình vào đông đảo người dân và trí thức Nhật Bản. Ông truyền tinh thần canh tân của mình cho hàng nghìn sinh viên theo hoc ở Keio, cho hàng triệu người Nhật qua các cuốn sách ông dịch, và qua những bài báo gây nhiều tranh cãi…

Qua bài học thành công và thất bại của Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ có thể tìm ra được cách hành xử thích đáng hơn của trí thức Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Nguồn:  http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=3232

Thể chế và phát triển (2)

II. Đổi mới tư duy và cải cách thể chế
Theo “Báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2012” của Nhóm tư vấn chính sách - Ủy ban kinh tế của Quốc hội, những bất ổn vĩ mô của năm 2011 và dự báo khó khăn kinh tế năm 2012 một phần là do những yếu tố khách quan bên ngoài khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào môi trường cạnh tranh toàn cầu với nhiều biến số bất định, đồng thời các điều kiện về tự nhiên, môi trường và biến đổi khí hậu cũng trở nên bất thường và bất lợi hơn. Mặc dù vậy nguyên nhân mang tính nền tảng là do mô hình tăng trưởng cũ được duy trì quá lâu, tạo ra những điểm yếu về cơ cấu và mâu thuẫn nội tại gay gắt trong nền kinh tế. Mô hình tăng trưởng hướng tới xuất khẩu chủ yếu dựa vào các yếu tố theo chiều rộng sử dụng nhiều vốn và lao động đã đến giới hạn; áp dụng kinh tế thị trường chưa đầy đủ; chưa hình thành cơ chế cạnh tranh tích cực phát huy nguồn lực của các thành phần kinh tế; các động lực tăng trưởng theo chiều sâu chưa được cải thiện để trở thành động lực phát triển; cơ cấu kinh tế chậm đổi mới để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế.
Ủy ban Kinh tế đã tổ chức Hội thảo khoa học “Kinh tế Việt Nam: Những vấn đề đặt ra trong trung và dài hạn” vào tháng 2/2011 và đề xuất một “chủ thuyết phát triển kinh tế” riêng cho Việt Nam trong đó ổn định kinh tế vĩ mô là ưu tiên hàng đầu và xuyên suốt với hai điểm mấu chốt là:
Thứ nhất, cần đổi mới tư duy có tính hệ thống đã tồn tại từ lâu và nay đã chứng tỏ không còn phù hợp, là nguyên nhân cơ bản tạo ra những yếu kém nội tại của nền kinh tế. Cần nhận thức rõ rằng cơ chế thị trường phải được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả mọi nguồn lực, chấm dứt hẳn những tư duy kế hoạch tập  trung, thiên về mệnh lệnh hành chính khi hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô. Vai trò của Nhà nước cũng cần phải xác định lại, trong đó phải kiên định với nguyên tắc “Nhà nước chỉ làm những gì mà khu vực tư nhân không muốn làm hoặc không thể làm khi đã được tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ từ phía Nhà nước”. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà  nước không nên hiểu và diễn giải là phải giữ vị trí chi phối trong các ngành kinh tế và lĩnh vực then chốt của nền kinh tế và độc quyền trên  nhiều lĩnh vực; không nên sử dụng DNNN là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.  
Hai là, xây dựng các thể chế phù hợp, trong đó đặc biệt quan trọng là quyền sở hữu và cạnh tranh bình đẳng, cũng là điều kiện quan trọng để các nguồn lực trong nền kinh tế được phân bổ một cách hiệu quả, qua đó giúp cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng hiệu quả, bền vững và có tính cạnh tranh. Cần sửa đổi Hiến pháp 1992, bắt đầu từ các định hướng chính sách đối với các thành phần kinh tế, chế độ sở hữu, các quyền tự do kinh doanh của người dân và cơ cấu trúc tổ chức bộ máy nhà nước thực thi quyền lực công cộng. Sửa đổi các đạo luật về tổ chức các cơ quan quyền lực nhà nước, trên thiết kế đại cương của bản Hiến pháp sau khi được sửa đổi, và nhất là nâng tầm cơ quan dân cử có một vai trò đáng kể hơn. Sửa đổi Luật Đất đai 2003 để thiết kế lại những quy định tạo ra một chế độ sở hữu minh bạch, rõ ràng, được bảo hộ chặt chẽ. Bổ sung đạo luật về quyền sở hữu nhà nước đối với DNNN và phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp hay đạo luật về thực hiện quyền sở hữu nhà nước đối với DNNN và phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp để thực hiện một cách có hiệu quả vai trò của DNNN.
Chương 7. Đổi mới và cải cách thể chế của Báo cáo này đã phân tích:
“Ở Việt Nam chính thể chế đã cho phép hình thành và ra đời kinh tế thị trường, cho phép hội nhập quốc tế, cho phép ra đời và hình thành khu vực kinh tế tư nhân. Thể chế nào thì doanh nghiệp ấy, các mặt mạnh và yếu của doanh nghiệp nhà nước, tư nhân của Việt Nam hiện nay đều do thể chế tác động đến”
“Cần có thay đổi mạnh mẽ từ hệ thống chỉ tiêu, hệ thống đánh giá, kế hoạch hóa mới thay đổi được mô hình tăng trưởng, mới tạo cơ hội cho mỗi địa phương phát triển phù hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của mình”
“Thực tế mất ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong thời gian qua hoàn toàn bác bỏ vai trò là công cụ “ổn định kinh tế vĩ mô” của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước. Nếu các tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty nhà nước là công cụ hữu hiệu để ổn định kinh tế vĩ mô thì tại sao tình hình kinh tế vĩ mô mất ổn định gay gắt, kéo dài như hiện nay?” 
“Có thể nói quan điểm “kinh tế nhà nước là chủ đạo” đang bị các nhóm lợi ích tận dụng triệt để cho lợi ích của một số cá nhân có liên quan. Đây là miếng đất mầu mỡ để tạo ra các mối “quan hệ” vây quanh các tập đoàn và tổng công ty nhà nước nẩy nở và phát triển”
“Chính sách coi “kinh tế nhà nước là chủ đạo” trong thực tế dẫn đến sự chèn ép trong thực tế đối với khu vực kinh tế tư nhân trong nước trong khi khu vực này cần mau chóng mạnh lên để cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài đang xâm nhập vào kinh tế Việt Nam theo các cam kết hội nhập và cạnh tranh quyết liệt với các doanh nghiệp Việt Nam”
  “Cùng với môi trường kinh doanh đòi hỏi mức đầu tư rất cao của khu vực tư nhân về thời gian và tiền bạc cho thiết lập và duy trì các mối quan hệ. Doanh nhân phải lo đến thăm người bệnh, dự đám giỡ, đám tang, đám cưới, chúc Tết của các quan chức lớn, nhỏ, v.v… để giữ mối quan hệ. Thực trạng này đã dẫn đến sự ra đời và lớn mạnh nhanh chóng của những “đại gia” tư nhân lớn, nhỏ ở Việt Nam, phất lên nhanh chóng không do có tiến bộ khoa học - công nghệ, không do tăng năng suất lao động hay đóng góp vào bảo vệ môi trường, đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội mà chủ yếu do khai thác tài nguyên đất đai, khai thác gỗ, mỏ, biển, v.v...”
  “Trong thực tế, lạm dụng quy định trong Luật Đất đai, Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách và các luật khác liên quan đã làm cho các quan chức có liên quan giàu lên nhanh chóng mà không có đóng góp gì cho ngân sách, cho tiến bộ xã hội. Trái lại, sự bất bình đẳng trong xã hội tăng lên, khiếu kiện về đất đai không được giải quyết thỏa đáng, biến thành những xung đột xã hội gay gắt. Trong quyền sở hữu về đất đai của nhà nước đã được trao cho nông dân năm quyền cụ thể như quyền sử dụng, quyền thừa kế, quyền thế chấp, v.v..., vì vậy không thể tách bạch giữa quyền sở hữu nhà nước và quyền sử dụng của nông dân. Thay đổi tư duy, nhìn nhận quyền sử dụng đất đai của tư nhân như những bộ phận trong quyền sở hữu nhà nước một cách hợp lý và giám sát chặt chẽ các quyền liên quan đến sở hữu là đòi hỏi cấp bách để sử dụng có hiệu quả tài nguyên, giải quyết thỏa đáng xung đột lợi ích giữa nông dân và nhà đầu tư, giảm căng thẳng và xung đột xã hội”
“Việc thiết kế và vận hành một bộ máy quyền lực ngày càng phình to, xa dân, kém hiệu quả và kém hiệu lực, không theo nguyên tắc “quyền lực phải được giám sát”, không công khai minh bạch là nguồn gốc sâu xa dẫn đến tham nhũng, lạm dụng chức quyền vì tư lợi, làm thoái hóa, biến chất bộ máy. Điều này thể hiện rất rõ trong hoạt động của bộ máy nhà nước cũng như trong cuộc sống hàng ngày của người dân và doanh nghiệp cũng như trong các so sánh quốc tế. Sự thật là gánh nặng chi phí để tuân thủ luật pháp và các quy định của bộ máy hành chính ở nước ta đang đè nặng lên người dân và doanh nghiệp. Nhiều quy định của luật pháp và cách hành xử của viên chức nhà nước nhằm tận thu của người dân và doanh nghiệp dưới dạng thu chính thức, hợp pháp và phi chính thức, bất hợp pháp. Nếu cộng tất cả các khoản lót tay, phong bì mà ô tô vận tải, ô tô khách, người dân phải nộp cho cảnh sát (ngoài khoản thu hơn 2.500 tỉ nộp ngân sách), người dân phải nộp cho nhà trường, bệnh viện, công sở, v.v… thì chi phí để nuôi bộ máy cao hơn gấp nhiều lần những con số chính thức đã được công bố.
Cần làm rõ thực trạng này và phải cải cách bộ máy và hệ thống chính trị theo nguyên tắc quyền lực phải được giám sát, phải có trách nhiệm giải trình, hạn chế tối đa sự độc quyền về quyền lực (như điều tra, giam giữ, quản lý nhà tù), thực hiện độc lập tư pháp, toàn án chỉ tuân thủ pháp luật, hiến pháp, nghiêm trị mọi hành động can thiệp, bao che hay trù dập, lạm dụng chức quyền ức hiếp, đàn áp người dân. Sửa đổi, bãi bỏ nhưng quy định đã lỗi thời, hạn chế quá đáng các quyền tự do, dân chủ của người dân như cho phép giam giữ và cải tạo hành chính không thông qua xét sử tại toàn án. Tôn trọng quyền con người của những phạm nhân bị giam giữ, thực hiện kiểm tra, giám sát độc lập với nhà tù, trại giam hiện đã có quy mô rất lớn. Xây dựng bộ máy theo nguyên tắc công khai, minh bạch trong tất cả các khâu, các hoạt động có liên quan đến người dân, thường xuyên duy trì quan hệ đối thoại lấy ý kiến của người dân về tất cả các văn bản luật pháp, quy định có liên quan đến người dân. Bộ máy nhà nước, giới cầm quyền phải cùng chia sẻ lợi ích với dân, không cho phép hình thành một bộ máy đặc quyền, đặc lợi, sống cách biệt với dân, đè đầu, cưỡi cổ người  dân. Một bộ máy như vậy, cần phải đào thải và chắc chắn sẽ bị nhân dân đào thải. Các nghiên cứu mới đây (xem Acemoglu) cho thấy chính thể chế, bộ máy nhà nước là nguyên nhân dẫn đến sự giàu có hay nghèo khổ của các dân tộc. Cải cách thể chế là khâu then chốt nhất để thúc đẩy cải cách kinh tế và tiến bộ xã hội ở Việt Nam hiện nay”.
“Sớm ban hành Luật về hội, sửa đổi Luật Báo chí nhằm tạo ra một không gian tranh luận bình đẳng vì lợi ích dân tộc, khuyến khích các hoạt động phản biện xã hội theo luật pháp, bảo đảm quyền tự do, dân chủ đã được hiến định của người dân. Xã hội loài người đã thay đổi rất mạnh mẽ, nhanh chóng, trở nên rất đa dạng và phức tạp. Công nghệ  thông tin, truyền thông, Internet đã xóa bỏ độc quyền thông tin, độc quyền chân lý, che dấu sự thật. Một xã hội muốn phát triển phải là xã hội cởi mở, bao dung, tạo ra cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi người, chia sẻ lợi ích công bằng với đóng góp của mỗi thành viên trong xã hội, thực sự thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, sắc tộc, quá khứ, thành phần giai cấp ở trong nước hay ngoài nước, thống nhất trong lợi ích dân tộc, xây dựng đất nước”.
“Acemoglu và Robinson (giáo sư Daron Acemoglu và giáo sư James Robinson đồng tác giả tác phẩm “Vì sao có những quốc gia thất bại, nguồn gốc của quyền lực, thịnh vương và nghèo đói”) lập luận rằng, nếu một chế độ tước đoạt lên nắm quyền,  tức là quyền lực chính trị bị tập trung trong một nhóm nhỏ thì không có sự thịnh vượng hay quyền tư hữu nào có thể cứu đất  nước đó khỏi kết cục suy tàn vì quyền sở hữu có thể bị thao túng. Nếu quyền lực chính trị có sự tham gia rộng rãi của quần chúng thì thể chế chính trị và kinh tế có thể mang lại sự thịnh vượng và phúc lợi cho đông  đảo quần chúng.
Lập luận của họ là mức thịnh vượng hiện đại đó dựa trên những nền tảng chính trị. Sự thịnh vượng gần như do đầu tư và sáng tạo tạo ra, nhưng đây là những hành vi của niềm tin: các nhà đầu tư và nhà sáng tạo phải có những lý do tin cậy để nghĩ rằng, nếu thành công, họ sẽ  không bị những kẻ quyền thế cướp bóc. Để chính thể cung cấp bảo đảm  như vậy, phải có hai điều kiện: phải giữ quyền lực tập trung và các thiết chế quyền lực phải dân chủ. Nếu không có quyền lực tập trung, sẽ sinh rối loạn và không tạo điều kiện cho đầu tư và kinh doanh”

Cuối cùng Báo cáo kết luận:
Đổi mới tư duy và thể chế kinh tế là khâu then chốt để thực hiện tái cấu trúc kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, phù hợp với xu thế tăng trưởng xanh, bền vững của thế giới. Quá trình này không tốn kém về tài chính, không cần đầu tư vốn lớn nhưng đòi hỏi quyết tâm chính trị cao để vượt qua được những nhóm lợi ích và tư duy nhiệm kỳ. Với tư duy mới và thể chế mới, năng lực mới, quá trình tái cơ cấu kinh tế ở Việt Nam sẽ đưa nền kinh tế Việt Nam sang một giai đoạn phát triển mới” 

Toàn văn báo cáo, tải tại: http://ecna.gov.vn/ct/bctk/Lists/BaoCaoThongKe/View_Detail.aspx?ItemID=23

Vấn đề cuối cùng được đặt ra là: làm sao để có quyết tâm chính trị cao??

                  

Thể chế và phát triển (1)




Phần 1: Quá trình “Đổi mới” nhìn từ góc độ thể chế

Thể chế không phải là một công trình hay tổ chức, thể chế là các qui định theo đó các cá nhân, công ty và nhà nước tác động lẫn nhau.
            Nhìn từ góc độ thể chế thì 25 năm đổi mới kinh tế Việt Nam (1986 – 2010) là quá trình trao quyền và trách nhiệm cho các chủ thể được phân cấp; trước hết là nông dân và doanh nghiệp, cho phép họ tự quyết định hoạt động của mình, sau đến là sự phân cấp và trao quyền ở các lĩnh vực khác: phân cấp và trao quyền cho chính quyền cấp tỉnh và các cấp thấp hơn, cho các đơn vị hành chính và sự nghiệp, cho tòa án cà các cơ quan dân cử, cho các phương tiện truyền thông đại chúng và xã hội dân sự.
Việc trao quyền và phân cấp này đã đem lại những động lực cho sản xuất và tăng trưởng, đã đem lại những kết quả đáng mừng mà những biện pháp kiểm soát quan  liêu  ngày xưa không thể làm được. Song việc trao quyền hạn và bãi bỏ những kiểm soát quan liêu cũng đồng thời đặt ra một vấn đề cơ bản: làm thế nào để đảm bảo trách nhiệm giải trình sau khi trao quyền? Sự đối lập cơ bản giữa quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình sẽ không tự nó giải quyết được. Các cơ chế về trách nhiệm giải trình sẽ không tự động nảy sinh để giải quyết những quan  hệ mới này, mà phải được thiết lập một cách có chủ ý. Trên thực tế, nhiều hình thức trách nhiệm giải trình mới đang được đưa ra, nhưng không phải lúc nào đó cũng là những biện pháp tối ưu. Vẫn còn nhiều bất cập cần giải quyết.
“Báo cáo Phát triển Việt Nam năm 2010” với chủ đề “CÁC THỂ CHẾ HIỆN ĐẠI” (*) tập trung vào việc phân cấp trao quyền và trách nhiệm giải trình, hai khía cạnh của thể chế hiện đại và là những khía cạnh đổi mới quan trọng nhất của Việt Nam trong hai thập kỷ vừa qua. Trong Báo cáo này phân biệt hai hình thức trách nhiệm giải  trình  là: trách nhiệm giải trình hướng lên trên tập trung vào việc tuân thủ các quy tắc, các chỉ  thị và chỉ đạo đến từ bộ máy nhà nước, và trách nhiệm giải trình hướng xuống dưới tập trung vào các kết quả mà một cá nhân hay một cơ quan có nhiệm vụ thực hiện. Một cá nhân hay cơ quan với trách nhiệm giải trình hướng lên trên sẽ quan tâm nhiều đến việc tuân thủ các quy định. Còn một cá nhân hay cơ quan với trách nhiệm giải trình hướng xuống dưới sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc phục vụ khách hàng. Cả hai hình thức  trách nhiệm giải trình này đều quan trọng và cần  thiết.
Qua Báo cáo này cho thấy:
1- Quá trình trao quyền và phân cấp được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn từ 1986 – 2.000 là giai đoạn trao quyền và phân cấp về mặt kinh tế, từ những cơ quan lập kế hoạch xuống cho người dân và doanh nghiệp. Giai đoạn 2.000 – 2010 là giai đoạn phân cấp trao quyền và trách nhiệm mạnh mẽ cho cấp tỉnh và các cấp dưới đó.  Và cuối giai đoạn 2.000 – 2010 đã diễn ra quá trình trao quyền về chức năng cho các cơ quan cung cấp dịch vụ (đơn vị hành chính, sự nghiệp, các tổ chức dân sự…). Nhìn chung, mức độ phân cấp và trao quyền là tương đối lớn, cả về phương diện địa lý và chức năng.
2- Các hệ thống giải trình trách nhiệm mới đang được xây dựng, nhưng thường  chậm và không phải lúc nào cũng tối ưu. Cụ thể, nêu tóm tắt một số điểm sau:
+ Thông qua việc phân cấp và trao quyền cho các  doanh nghiệp và hộ gia đình, cho chính quyền  các  cấp    địa  phương    cho  các  đơn  vị  cung  cấp dịch vụ tự chủ về tài chính, chính phủ đang  dần  dần  được  chuyển  từ  vai  trò  của  người  chỉ đạo sang vai trò của người đưa ra quy định, trong quá trình này, vai trò của nhà nước trung  ương trong việc đảm bảo tính thống nhất và nhất quán cho toàn bộ bộ máy chính quyền càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Nhiều mục tiêu cải cách hành chính đã được đưa ra và đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng đôi khi vẫn còn chậm trễ trong việc chuyển từ chính sách thành hành động cụ thể. Các đề xuất về ngân sách hiện nay chưa được công bố cho tới khi được phê duyệt – cùng với đó là thiếu một cơ chế chính thức cho việc tham vấn dân về ngân sách.
            + Cùng với việc phân cấp, trao quyền hạn và trách nhiệm mạnh mẽ cho chính quyền cấp tỉnh và các cấp thấp hơn thì cách thức và mức độ giám sát cũng được tăng cường như giao thẩm quyền phê duyệt và giám sát quá trình thực hiện ngân sách cho Hội đồng nhân dân và trách nhiệm giải trình hướng xuống dưới cũng được tăng cường thông qua các biện pháp yêu cầu  tính minh bách cao hơn. Tuy nhiên cấp xã được trao quyền, trách nhiệm ít hơn thì yều cầu giải trình hướng xuống dưới lại đòi hỏi cao hơn cấp tỉnh được giao phần lớn quyền hạn và trách nhiệm. Do đó, thách thức nảy sinh là trách nhiệm giải trình với các cơ chế mới khó đi đôi với nhau.
            Việc trao hầu hết quyền hạn trách nhiệm cho cấp tỉnh cũng đã làm nảy sinh sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các tỉnh trong vấn đề thu hút vốn đầu tư và gây trở ngại trong quy hoạch vùng.
            + Việc trao quyền trách nhiệm theo các lĩnh vực chức năng cho các đơn vị sự nghiệp cung cấp dịch vụ đã được thực hiện, tuy nhiên việc chủ động cung cấp dịch vụ và chất lượng dịch vụ theo những tiêu chuẩn thống nhất đảm bảo cho người dân có thể dễ dàng tiếp cận đang là một thách thức chưa có lời giải đáp. Vấn đề nổi lên ở đây: xung đột lợi ích làm khó khăn đối với việc cung cấp dịch vụ. Bác sỹ làm bệnh viện công, mở phòng khám tư làm nảy sinh giới thiệu bệnh nhân từ bệnh viện ra phòng khám, hay tương tự là việc giáo viên đứng lớp ở trường và mở lớp dạy thêm ở nhà và “chế độ một cửa” đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ hành chính trực tiếp…Như vậy việc dung hòa giữa việc phân cấp trao quyền tự chủ và duy trì chất lượng dịch vụ của các đơn vị dịch vụ ( hành chính trực tiếp, sự nghiệp) đòi hỏi phải có sự thay đổi trong cơ chế giải trình hướng lên để đảm bảo việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc gia và trách nhiệm giải trình xuống dưới đối với người sử dụng dịch vụ.
            + Việc ban hành hàng loạt luật và các quy định mới là nhằm đáp ứng bối cảnh đổi thay của nền kinh tế, tuy nhiên việc thay đổi hành lang pháp lý gây nên tâm lý ko chắc chắn cho các doanh nghiệp, hộ gia đình và cho cả cá nhân các cán bộ nhà nước chịu trách nhiệm thực thi các quy định này. Hiện trạng là các doanh nghiệp đều có chung nhận định là các luật kinh tế, tài chính là rất kho dự đoán. Việc làm luật, lệ trở nên dễ dự đoán phải bắt đầu từ việc công bố các dự thảo và quan trọng hơn là không phải chỉ ở tham vấn dự thảo mà là việc tranh luận về những vấn đề cơ bản như mục tiêu của luật đang được đề xuất.
            + Việc giải quyết tranh chấp cũng đang được chuyển dần tư các cơ quan cấp chính phủ trung ương và cấp tỉnh sang cho tòa án. Để đảm bảo tính tin cậy, các tòa án phải hoạt động hiệu quả và độc lập bằng việc xét xử dựa trên tranh tụng.Việc cố gắng dung hòa giữa tính độc lập và trách nhiệm giải trình là đặc biệt khó đạt đối với ngành tư pháp, tuy nhiên một biện pháp được đưa ra, đó là chú trọng tính minh bạch.
            + Trong việc phân cấp trao quyền và trách nhiệm giải trình có một số cơ quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng – đó là những cơ quan không chỉ tiếp nhận sự trao quyền và chịu trách nhiệm giải trình mà còn đóng vai trò GIÁM SÁT trong việc đảm bảo trách nhiệm giải trình của các cơ qua khác. Đó là nhưng cơ quan phát hiện và ngăn chặn tham nhũng, các tổ chức dân sự, các cơ quan dân cử và các phương tiện thông tin đại chúng, tất cả đều đóng vai trò khác nhau trong hệ thống giải trình và mỗi cơ quan đều đang gặp phải những thách thức riêng của mình. Nhưng đều có một yêu cầu chung để đảm bảo các cơ quan này hoạt động có hiệu quả hơn đó là việc đảm bảo tiếp cận thông tin
            Việc có nhiều khả năng xảy ra xung đột lợi ích đối với những thành viên của các tổ chức, cơ quan này cũng là thách thức làm hạn chế chức năng giám sát của các cơ quan này trong việc đảm bảo trách nhiệm giải trình của các cơ quan khác. Ví dụ như các đại biểu quốc hội, hội đông nhân dân các cấp vẫn giữ những chức vụ trong chính phủ hay chính quyền các cấp…

Tóm lại, Nhìn từ góc độ thể chế thì quá trình “đổi mới” ở nước ta trong thời gian qua chính là quá trình phân cấp, trao quyền và cùng với đó, hình thành một hệ thống giải trình trách nhiệm mới. Trong hệ thống phân cấp trao quyền và trách nhiệm giải trình hiện nay đang xảy ra hiện tượng bất cân xứng thẩm quyền được giao và trách nhiệm giải trình, hệ thống này cũng  làm nảy sinh nhiều xung đột lợi ích và rõ ràng thông tin đóng vai trò trung tâm trong hệ thống giải trình trách nhiệm. 

Toàn văn “Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2010” có thể xem tại http://siteresources.worldbank.org/INTVIETNAMINVIETNAMESE/Resources/VDR2010Dec17.pdf